vanban.org

Quyết định 04/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 27/04/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Tuyên bố ông Ngô Văn K, sinh ngày 12/12/1965, địa chỉ: Thôn Bình Đẳng, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi là đã chết. Ngày chết của ông Ngô Văn K là ngày 01/01/1991. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Ngô Văn K: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn K đã chế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Nguyễn Thị D yêu cầu tuyên bố Ngô Văn K đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2022/QĐST-VDSTp. Quảng Ngãi, ngày 27 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,

TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trà Thanh Tùng

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Vân– Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 307/2021/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2021 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2022/QĐST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn BĐ, xã TAĐ, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Ngô Minh Q, sinh năm 1986.

+ Bà Ngô Thị K, sinh năm 1990.

+ Bà Đỗ Thị Ngọc A, sinh năm 1987.

+ Ông Ngô S, sinh năm 1929.

Cùng địa chỉ: Thôn BĐ, xã TAĐ, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.

Ông Q, bà K, bà A, ông S, vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 04/11/2021 bà Nguyễn Thị D trình bày: Vào ngày 27/01/1986, bà và ông Ngô Văn K, sinh ngày 12/12/1965 đăng ký kết hôn tại UBND xã Tịnh Ấn và sinh sống với nhau tại thôn Trà Sơn, xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh nay là thôn Bình Đẳng, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Trong quá trình chung sống, bà và ông K có với nhau 02 người con chung là Ngô Minh Q, sinh năm 1986 và Ngô Thị K, sinh năm 1990. Đến năm 1990 (không nhớ rõ vào ngày tháng nào), ông K bỏ nhà đi biệt tích, gia đình đi kiếm nhiều nơi nhưng đến nay (hơn 30 năm) không có tin tức xác thực là ông K còn sống.

Việc ông K bỏ đi để lại hai đứa con nhỏ, trong khi bà không có việc làm ổn định, phải đi bán vé số để kiếm tiền nuôi con dẫn đến kinh tế trong gia đình gặp rất nhiều khó khăn, mà hai bên gia đình cũng khó khăn nên không giúp được gì.

Hiện gia đình khó khăn, không có chỗ ở bà rất cần bán một ít tài sản để có tiền xây ngôi nhà cho mẹ con bà ở nhưng vì còn vướng thủ tục với ông K nên không bán được. Việc này làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà và các con. Do đó, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 71, khoản 1 Điều 68, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS) và Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi giải quyết: Tuyên bố ông Ngô Văn K, sinh ngày 12/12/1965, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Bình Đẳng, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi là đã chết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp, người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự: Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 362, 363, 365, 366 BLTTDS; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định theo BLTTDS.

Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, căn cứ Điều 71, 72 BLDS 2015, Điều 27, 362, 384, 385, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận đơn yêu cầu của bà Ngyễn Thị D, tuyên bố ông Ngô Văn K là đã chết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị D phải chịu theo quy định của pháp luật (bà Dung đã nộp và chi phí xong).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Bà Nguyễn Thị D yêu cầu tuyên bố chồng của bà là ông Ngô Văn K là đã chết. Ông Ngô Văn K có nơi cư trú cuối cùng: Thôn Bình Đẳng, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu của bà Nguyễn Thị D tuyên bố ông Ngô Văn K là đã chết:

Tại Giấy công nhận kết hôn ngày 27/01/1986 của UBND xã Tịnh Ấn (nay là UBND xã Tịnh Ấn Đông), thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị D có chồng là ông Ngô Văn K. Đến năm 1990 không nhớ rõ vào ngày tháng nào nên bà D xác định vào ngày 01/01/1991 ông K bỏ nhà đi biệt tích, gia đình đi kiếm nhiều nơi nhưng đến nay (hơn 30 năm) không có tin tức xác thực là ông K còn sống nên bà D có quyền yêu cầu tuyên bố ông Ngô Văn K là đã chết theo quy định tại Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Đơn xin xác nhận ngày 20/9/2021 của bà Nguyễn Thị D được UBND xã Tịnh Ấn Đông xác nhận có căn cứ xác định: Vào năm 1986, bà Nguyễn Thị D có kết hôn với ông Ngô Văn K sống với nhau sinh được 02 người con, nhưng đến năm 1990, ông K bỏ nhà ra đi từ đó đến nay gia đình không liên lạc được. Hiện giờ ông K đang sinh sống ở đâu gia đình không biết. Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã thông báo tìm kiếm được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, đăng trên 03 số báo liên tiếp trên Báo Nhân dân vào các ngày 01, 02, 03 tháng 12 năm 2021 và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam trong các ngày 20, 21, 22 tháng 12 năm 2021. Sau 04 tháng kể ngày đăng thông báo lần đầu, đến nay vẫn không có tin tức gì về ông Ngô Văn K. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này” thì việc bà Nguyễn Thị D yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn K đã chết là có căn cứ nên chấp nhận và phù hợp với ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp.

Về xác định ngày chết của ông Ngô Văn K: Theo trình bày của bà Nguyễn Thị D và xác nhận của UBND xã Tịnh Ấn Đông: Ông Ngô Văn K bỏ nhà ra đi từ năm 1990 đến nay gia đình không liên lạc được, bà Nguyễn Thị D trình bày ông K bỏ đi từ năm 1990 không nhớ rõ ngày, tháng đến nay hơn 30 năm nên bà D xác định ngày đầu tiên của năm tiếp theo là ngày 01/01/1991 là ngày ông Ngô Văn K chết là có căn cứ nên chấp nhận ông Ngô Văn K chết ngày 01/01/1991, phù hợp với khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Ngô Văn K: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn K đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về nhân thân của ông Ngô Văn K được giải quyết như đối với một người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Ngô Văn K được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Ngô Văn K được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà D phải chịu lệ phí 300.000 đồng nhưng bà D đã nộp tạm ứng nên được khấu trừ.

. Về chi phí tố tụng: Bà D phải chịu chi phí cho việc đăng phát thông báo tìm kiếm về người bị yêu cầu tuyên là đã chết theo quy định pháp luật.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, Điều 362, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

2. Tuyên bố ông Ngô Văn K, sinh ngày 12/12/1965, địa chỉ: Thôn Bình Đẳng, xã Tịnh Ấn Đông, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi là đã chết. Ngày chết của ông Ngô Văn K là ngày 01/01/1991.

3. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Ngô Văn K: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn K đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về nhân thân của ông Ngô Văn K được giải quyết như đối với một người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Ngô Văn K được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Ngô Văn K được giải quết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà D đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0000213 ngày 12/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

5. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 3.300.000 đồng (ba triệu, ba trăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm (bà D đã nộp chi phí xong).

6. Người yêu cầu có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ