- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Vũ Thị U yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị C đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị U, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H:
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐST-VDS | Thanh Miện, ngày 14 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN – TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà An Thị Hà Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-VDS ngày 24 tháng 01 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2022/QĐST-VDS ngày 28/6/2022, Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 07/7/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị U, sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H. Bà U vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.
- Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Bà Vũ Thị C, sinh năm: 1961; Sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và biên bản ghi lời khai của bà Vũ Thị U xác định như sau: Bố mẹ bà là ông Vũ Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1932 sinh được 08 anh chị em gồm bà, chị Vũ Thị C1, sinh năm 1956; chị Vũ Thị C2, sinh năm 1959; chị Vũ Thị C, sinh năm 1961; anh Vũ Văn T, sinh năm 1964; anh Vũ Văn T1, sinh năm 1966; anh Vũ Văn K, sinh năm 1969; Vũ Văn C3, sinh năm 1975. Địa chỉ cả gia đình đều ở thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H. Thời điểm năm 1990, bà không nhớ rõ ngày tháng cụ thể vì thời gian đã lâu, bà Vũ Thị C là chị gái của bà nói chuyện và xin phép gia đình cho đi làm ăn xa, sau đó chị ấy thu xếp đồ đạc, quần áo và bỏ đi. Khoảng mấy tháng đầu, bà C vẫn thường xuyên gọi điện liên lạc với gia đình bà. Tuy nhiên khoảng 05 tháng sau kể từ ngày bà C bỏ đi, gia đình bà không thấy bà C liên lạc về cho gia đình bà lần nào nữa. Quãng thời gian kể từ lúc bà C biệt tích cho đến nay, gia đình bà rất nhiều lần hỏi thăm tin tức, thông báo lên báo đài và nhiều biện pháp tìm kiếm trên mạng xã hội nhưng đều không tìm được tin tức gì của bà C, không biết bà C ở đâu, làm gì. Cũng kể từ thời điểm bà C bỏ đi cho đến nay bà C không về lại gia đình bà hay liên lạc với gia đình bà nữa. Tính đến nay, bà C đã biệt tích khoảng hơn 32 năm. Do có liên quan đến quan hệ nhân thân và tài sản đối với gia đình bà nên bà là đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thanh Miên tuyên bố bà Vũ Thị C là đã chết.
Tại biên bản lấy lời khai với bà Ngô Thị H, chị Vũ Thị C1, chị Vũ Thị C2, anh Vũ Văn T, anh Vũ Văn T1, anh Vũ Văn K, anh Vũ Văn C3 (là mẹ đẻ và anh chị em của bà C) đều xác định bà Vũ Thị C thời điểm khoảng năm 1990 (mọi người đều không nhớ chính xác ngày tháng cụ thể vì thời gian đã lâu), bà C xin phép cả gia đình đi làm ăn, mấy tháng đầu bà C có liên lạc về với gia đình nhưng sau đó không liên lạc và cũng không có bất cứ tin tức gì của bà C nữa. Gia đình đã nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, đăng báo đài nhưng không có kết quả, không có tin tức bà C ở đâu, còn sống hay đã chết. Nay chị Vũ Thị U là em gái bà C làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị C là đã chết, cả gia đình đều nhất trí, không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại biên bản xác minh với ông Vũ Văn L - Trưởng thôn, bí thư chi bộ thôn T, xã C xác định: Bà C là công dân sinh ra và lớn lên tại địa phương, bà là một trong tám người con của của ông Vũ Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị H; Qua quản lý, nắm bắt, ông Lượng được biết khoảng năm 1990, bà C đã bỏ đi khỏi địa phương và không quay về địa phương lần nào nữa từ đó đến nay. Gia đình bà C đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có bất cứ tin tức gì của bà C. Nay bà Vũ Thị U là em gái bà C yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C là đã chết, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản xác minh với Công an xã C, huyện T, tỉnh H cung cấp: Qua kiểm tra, rà soát sổ sách, thông tin lưu trữ tại công an xã C, xác định không còn lưu giữ thông tin liên quan đến trường hợp công dân Vũ Thị C, sinh năm 1961. Mẹ đẻ và anh chị em của bà C đã và đang cư trú, sinh sống tại địa phương, cụ thể tại thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện trình bày việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ; tiến hành tố tụng tại phiên họp chấp hành đúng quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về đường lối giải quyết: đề nghị áp dụng điểm d, khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; các Điều 149, Điều 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị U, tuyên bà Vũ Thị C là đã chết. Ngày chết của bà Vũ Thị C được xác định là ngày 01/01/1996.
- Quan hệ nhân thân của bà Vũ Thị C được giải quyết theo quy định như đối với người đã chết.
- Quan hệ tài sản của bà Vũ Thị C được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị U phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, Toà án nhân dân huyện Thanh Miện nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị C, sinh năm 1961 có nơi cư trú cuối cùng là thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H. Do có liên quan về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của gia đình bà, bà Vũ Thị U là em gái bà C làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Vũ Thị C là đã chết. Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo đơn yêu cầu của bà Vũ Thị U là đảm bảo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu tuyên bố bà Vũ Thị C đã chết của bà Vũ Thị U: Bà Vũ Thị C là một trong 08 người con của ông Vũ Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1932, địa chỉ đều ở thôn T, xã C. Căn cứ lời khai của bà Hới là mẹ đẻ bà C, các anh chị em ruột của bà C gồm chị Vũ Thị C1, chị Vũ Thị C2, anh Vũ Văn T, anh Vũ Văn T1, anh Vũ Văn K, chị Vũ Thị U, sinh năm 1971 và anh Vũ Văn C3; căn cứ biên bản xác minh với đại diện chính quyền địa phương, công an xã C; Có đủ cơ sở xác định: Bà Vũ Thị C đã đi khỏi địa phương từ năm 1990, gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì, từ đó đến nay cũng như việc bà C không quay trở lại địa phương lần nào và cũng không có bất kỳ hình thức nào liên hệ với gia đình và địa phương.
Toà án nhân dân huyện Thanh Miện đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết; Thông báo này đã được đăng tải thông tin trên 03 số báo liên tiếp của “Báo Nhân dân - Cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam”, phát sóng 03 tin liên tiếp trên “Đài tiếng nói Việt Nam (VOV)” và đăng thông báo trên “Cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương”. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát tìm kiếm đầu tiên mà không có tin tức gì về bà Vũ Thị C, bà C cũng không trở lại gia đình, địa phương. Như vậy, đủ căn cứ xác định bà Vũ Thị C đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự; Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị U về việc tuyên bố bà Vũ Thị C là đã chết.
Về việc xác định ngày chết của bà Vũ Thị C: Theo lời trình bày của bà Vũ Thị U, của gia đình bà C và địa phương cùng các tài liệu chứng cứ khác xác định bà Vũ Thị C bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1990, do vậy thời hạn 05 năm liền biệt tích của bà C được xác định là ngày 01/01/1996 theo quy định tại các Điều 68, Điều 71 và khoản 4 Điều 148 Bộ luật Dân sự.
Về lệ phí: Bà Vũ Thị U là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí theo quy định.
Về chi phí đăng thông báo tìm kiếm bà Vũ Thị C trên các phương tiện thông tin đại chúng: Bà U là người yêu cầu nên phải chịu toàn bộ chi phí, xác định bà C đã thực hiện xong nghĩa vụ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 68, Điều 71, Điều 72, khoản 4 Điều 148 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 391, 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị U, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H:
Tuyên bố bà Vũ Thị C, sinh năm 1961, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng tại: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh H đã chết ngày 01/01/1996.
2. Khi Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Vũ Thị C được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Vũ Thị C vẫn được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về lệ phí: Bà Vũ Thị U phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng, được đối trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà đã nộp theo biên lai số: AA/2020/0004098 ngày 21 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định.
| Nơi nhận: - Chi cục THADS huyện Thanh Miện; - VKSND huyện Thanh Miện; - Người yêu cầu; - UBND xã C. - Lưu hồ sơ vụ án; | - VKSND huyện Thanh Miện;THẨM PHÁN Thẩm phán Nguyễn Thanh Nhàn |