vanban.org

Quyết định 04/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 14/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị H:

Tuyên bố chị Tạ Thị T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng mất năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn Thị H là người giám hộ đương nhiên của chị Tạ Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Bà H tuyên bố chị T mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị H:
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2022/QĐST-DSQuận Ngô Quyền, ngày 14 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thị Hảo

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 43/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 35/2022/QĐST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thị H và chồng tôi là ông Tạ Duy Tới (đã chết năm 2017) có con gái là Tạ Thị T, sinh năm 1979. Từ khi sinh ra, chị T đã bị bệnh tâm thần, không giao tiếp được, sống phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Gia đình bà H đã nhiều lần đưa chị T đi điều trị tại Bệnh viện tâm thần Đông Khê, thành phố Hải Phòng một thời gian dài nhưng không khỏi mà bệnh tình ngày một trầm trọng hơn. Chị T đã được xác nhận là người khuyết tật theo Giấy xác nhận khuyết tật do Ủy ban nhân dân phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cấp ngày 30/9/2013. Chị T không có chồng con. Từ khi sinh ra đến nay, chị T vẫn sống cùng với bà H, bà H là người trực tiếp chăm sóc. Nay bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Tạ Thị T là người mất năng lực hành vi dân sự.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1947, là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng lệ phí, miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm.

Kết luận giám định số 07/KLGĐ ngày 12/01/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương đã kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Tạ Thị T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng có tật chứng về hành vi tác phong. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72.1. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự, căn cứ vào Kết luận giám định số 07/KLGĐ ngày 12/01/2022 của Viện Pháp y tâm thần trung ương cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, tuyên bố chị Tạ Thị T năng lực hành vi dân sự. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị H được miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về sự vắng mặt của người yêu cầu:

Bà Nguyễn Thị H đã được tống đạt Quyết định mở phiên họp nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà Nguyễn Thị H theo quy định tại khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự:

Bà Nguyễn Thị H có con gái là chị Tạ Thị T, sinh năm 1979. Từ khi sinh ra, chị T đã bị bệnh tâm thần, không giao tiếp được, sống phụ thuộc hoàn toàn vào người khác, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện chị Tạ Thị T vẫn được bà Nguyễn Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi sinh ra cho đến nay.

Ngày 10/11/2021, bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố chị Tạ Thị T mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 17/11/2021, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố chị Tạ Thị T mất năng lực hành vi dân sự và đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 322/2021/QĐ-TCGĐ ngày 01/12/2021 trưng cầu H đồng giám định y khoa Viện Pháp y tâm thần Trung ương thực hiện giám định năng lực hành vi dân sự của chị Tạ Thị T.

Ngày 28/02/2022, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận được Kết luận giám định số 07/KLGĐ ngày 12/01/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương đã kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Tạ Thị T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng có tật chứng về hành vi tác phong. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72.1. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận chị Tạ Thị T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố chị Tạ Thị T mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự.

Bà Nguyễn Thị H là người giám hộ đương nhiên của chị Tạ Thị T theo quy định tại khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự.

- Về lệ phí:

Bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi, đã có đơn đề nghị miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm nên được miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 22; khoản 3 Điều 53 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 369, 370, 376, 377, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Nguyễn Thị H:

Tuyên bố chị Tạ Thị T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Nguyễn Thị H là người giám hộ đương nhiên của chị Tạ Thị T.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ