vanban.org

Quyết định 04/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/6/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự". Tuyên bố: Chị Vũ Hồng Th, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A, lô 2, ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai, là người mất năng lực hành vi dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố chị Vũ Hồng Th là người mất NLHVDS"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/6/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2022/QĐST-DSThống Nhất, ngày 20 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Thùy Trang.

Thư ký phiên họp: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường B - Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 61/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2022, về việc“Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 171/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Ông Vũ Văn D

sinh năm 1960

2. Bà Phạm Thị T

sinh năm 1962

Cùng địa chỉ: Số A, lô 2, ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 29 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình giải quyết việc dân sự ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T trình bày:

Chị Vũ Hồng Th, sinh năm 1988, cư trú tại số nhà 173, lô 2, ấp 1, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai là con đẻ của ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T.

Theo ông D và bà T, ngay từ khi được sinh ra chị Th đã có cục bướu ở trên đầu dẫn đến tình trạng chậm phát triển về cả trí não và tinh thần (cảm xúc ngây ngô, tư duy nghèo nàn, trí tuệ và trí nhớ kém, hành vi chậm chạp, vệ sinh cá nhân phải phụ thuộc vào người thân, ...), sau nhiều lần gia đình đưa chị Th đi điều trị nhưng vẫn không có kết quả. Từ ngày 01/7/2012 cho đến nay, chị Th được xác định là đối tượng người “Khuyết tật nặng” và được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quyết định của Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất.

Hiện gia đình có nhu cầu cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chị Th lại không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi nên ông Dung và bà Tám yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Th bị mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T về việc “Yêu cầu tuyên bố chị Vũ Hồng Th, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A, lô 2, ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai, mất năng lực hành vi dân sự" và cử ông Vũ Văn D là người giám hộ cho chị Th theo quy định.

- Về lệ phí: Miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho người yêu cầu.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vũ Hồng Th mất năng lực hành vi dân sự nên quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định hiện chị Th đang cư trú tại xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nên đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai được quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên họp, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng người yêu cầu giải quyết việc dân sự vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Xét yêu cầu tuyên bố chị Vũ Hồng Th mất năng lực hành vi dân sự: Theo lời khai của ông D và bà T thì chị Th đã có biểu hiện bệnh lý (cảm xúc ngây ngô, tư duy nghèo nàn, trí tuệ và trí nhớ kém, hành vi chậm chạp, vệ sinh cá nhân phải phụ thuộc vào người thân, ...) và hiện chị Th là đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, lời khai này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả xác minh ngày 05/4/2022 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện T và văn bản số 284/LĐTBXH ngày 28/4/2022 của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T: “Từ ngày 01/7/2012, chị Th được xác định là đối tượng người “Khuyết tật nặng” và được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng với số tiền là 360.000đ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) theo Quyết định số 2958/QĐ-UBND ngày 05/9/2012 của Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất và hiện nay chị Th được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng với số tiền là 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) theo Quyết định số 2379/QĐ-UBND ngày 15/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất kể từ ngày 01/7/2021”.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 215/KL-VPYTW ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận đối với chị Vũ Hồng Th như sau:

"- Về y học: Đương sự bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng (F72-IDC.10);

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

Theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Từ những căn cứ trên, đủ cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố chị Vũ Hồng Th mất năng lực hành vi dân sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên họp là phù hợp.

Về yêu cầu người giám hộ: Ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T là cha mẹ đẻ của chị Vũ Hồng Th, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 thì ông D, bà T là người giám hộ của chị Vũ Hồng Th. Tuy nhiên, ông D và bà T đều thống nhất yêu cầu Tòa án để ông D đại diện là người giám hộ cho chị Th là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết việc dân sự phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì người yêu cầu thuộc trường hợp được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Về chi phí tố tụng: Người yêu cầu phải chịu chi phí trưng cầu giám định pháp y tâm thần số tiền là 4.333.750đ (Bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng), người yêu cầu đã thanh toán xong.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 22; điểm c khoản 1 Điều 47; khoản 3 Điều 53; Điều 57 và Điều 58 Bộ luật Dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/6/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự".

1. Tuyên bố: Chị Vũ Hồng Th, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A, lô 2, ấp 1, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai, là người mất năng lực hành vi dân sự.

Ông Vũ Văn D là người giám hộ cho chị Vũ Hồng Th. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Văn D và bà Phạm Thị T được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ