- Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Ông Lê Văn P, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 07/2021/QĐST-HC ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Luật đất đai xác định yêu cầu; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 143 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2022/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 17 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Trường
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tiến
Ông Trương Minh Tuấn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Trần Viết Tuấn, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2021/QĐST-HC ngày 27 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:
- Người khởi kiện: Ông Lê Văn P, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Người bị kiện: UBND huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lọi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M. Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ. Địa chỉ: Xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
2/ Ông Lê Văn H, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Kim Th, sinh năm 1957. Cùng địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
NHẬN THẤY
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 18/8/2021, người khởi kiện ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2021/QĐST-HC ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên chuyển hồ sơ vụ án về tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.
Tại phiên họp phúc thẩm: Bà Trần Thị Mỹ L và ông Lê Văn P vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo cho rằng: Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy CNQSDĐ số BG 999067 ngày 13/7/2011 đối với 341m2 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 cho vợ chồng ông bà là không đúng với Quyết định 865/QĐ-UB ngày 07/10/2002 của UBND huyện M về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa vợ chồng ông bà với ông Lê Văn H.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên họp đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện; vì quyết định đình chỉ vụ án của tòa án cấp sơ thẩm là đúng pháp luật.
XÉT THẤY:
Ngày 07/10/2002 UBND huyện M ban hành Quyết định số 865/QĐ-UB về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Lê Văn P với ông Lê Văn H, thuờng trú tại thôn 7, xã Đ; theo đó đã công nhận hộ ông Lê Văn H được quyền sử dụng 519,65m2 đất thuộc thửa đất số 609, tờ bản đồ số 05 tại xã Đ, huyện M và công nhận hộ ông Lê Văn P được quyền sử dụng 335,47m2 đất thuộc thửa đất số 602, tờ bản đồ số 05 tại xã Đ, huyện M. Ngày 04/8/2006 UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất với diện tích 341m2, số vào sổ H.03408 cho bà Lê Thị Thu H1 (mẹ của ông Lê Văn P) tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 xã Đ, huyện M. Ngày 20/02/2009 bà Lê Thị Thu H1 lập hợp đồng tặng cho quyền sử đất đối với diện tích 341m2 đất tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09, tại xã Đ, huyện M nêu trên ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L. Ngày 13/7/2011 UBND huỵện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BG 999067, số vào sổ CH.00024, đối với 341m2 đất, loại đất ONT, thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 xã Đ, huyện M cho ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L. Ngày 25/8/2011 bà Trần Thị Mỹ L đã nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi- Chi nhánh huyện M giao trực tiếp; trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sơ đồ thửa đất, ghi rõ chiều dài, chiều ngang của thửa đất. Tuy nhiên sau khi nhận Giấy CNQSDĐ nêu trên, ông P, bà L không phát sinh khiếu nại hoặc khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền.
Ngày 04/5/2020 và ngày 07/5/2020 ông Lê Văn P, bà Trần Thị Mỹ L có đơn yêu cầu UBND huyện M xem xét thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BG 999067, số vào sổ CH.00024 do UBND huỵện M cấp cho ông bà ngày 13/7/2011 đối với diện tích 34 1m2, loại đất ONT tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 09 xã Đ, huyện M với lý do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cấp không đúng so với Quyết định số 865/QD-UB ngày 07/10/2002 của UBND huyện M về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Lê Vãn Pha với ông Lê Văn H. Ngày 07/7/2020 UBND huyện M ban hành Công văn số 563/UBND-KT về việc trả lời yêu cầu của ông P, bà L; theo đó, UBND huyện M căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013 và khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/ND-CP ngày 15/5/20214 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai xác định yêu cầu của ông bà là không đủ điều kiện để xem xét giải quyết, đồng thời huớng dẫn ông Lê Văn P, bà Trần Thị Mỹ L có quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân để được giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định. Đồng thời, cùng ngày UBND huyện M ban hành Công văn số 562/UBND-KT giao UBND xà Đ tổ chúc hòa giải tranh chấp đất đai giữa ông Lê Văn P, bà Trần Thị Mỹ L với ông Lê Vãn Hùng.
Xét thấy Công văn số 563/UBND-KT ngày 07/7/2020 của UBND huyện M là văn bản trả lời, hướng dẫn cho ông Lê Văn P, bà Trần Thị Mỹ L, không phải là văn bản giải quyết khiếu nại nên không làm phát sinh, thay đối, hạn chế, chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Văn P, bà Trần Thị Mỹ L.
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 07/2021/QĐST-HC ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên họp, ông P bà L không cung cấp được chứng cứ nào khác; do đó, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L; giữ nguyên quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính;
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 07/2021/QĐST-HC ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
2. Ông Lê Văn P và bà Trần Thị Mỹ L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0651 ngày 01/10/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành (17/01/2022).
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ III) - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Tấn Trường |