vanban.org

Quyết định 04/2022/HS-GĐT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VC3-V1 ngày 07/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị T để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn thị t tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 199…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VC3-V1 ngày 07/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 04/2022/HS-GĐT
Ngày 18 tháng 01 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quảng Đức Tuyên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Văn

Ông Nguyễn Hữu Ba

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Cẩm Linh - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 tại Trà Vinh; nơi ĐKHKTT: Ấp TN, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; anh, chị ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 18/6/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 180/QĐ-TA, đến ngày 26/01/2018 chấp hành xong; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018. Sau đó được đưa đến cơ sở chữa bệnh bắt buộc từ ngày 27/8/2018 đến 25/5/2021. Ngày 25/5/2021, bị tạm giam tiếp tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bù Đốp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Thị T là đối tượng nghiện ma túy. Vào ngày 30/5/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đã gọi điện thoại cho S (không rõ lai lịch) để xin ma túy sử dụng và được S đồng ý. Ngày 31/5/2018, T nhận được ma túy do S gửi. Khoảng 09 giờ ngày 01/6/2018, nhận được tin báo tại nhà của T ở ấp TN, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước có tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BĐ, tỉnh Bình Phước phối hợp với Công an xã TT tiến hành kiểm tra nhà T, phát hiện thu giữ trên đầu giường ngủ của T 01 túi nylon dạng khóa miết, bên trong có một túi nylon khác chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), tất cả bỏ trong hộp nhựa màu trắng và một chai nhựa hiệu sting có cắm ống hút (dụng cụ để sử dụng ma túy). Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành lập biên bản và thu giữ các vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 179/2018/QĐKTHS ngày 06/6/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận tinh thể màu trắng nêu trên được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 00,3991 gram, loại Methamphetamin. Ngày 06/06/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BĐ, tỉnh Bình Phước ban hành quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 259 Bộ luật hình sự.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 53, trưng cầu giám định tình trạng tâm thần đối với Nguyễn Thị T. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 357/KL-VPYTW ngày 18/7/2018, Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa, kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay Nguyễn Thị T bị bệnh rối loạn loạn thần do sử dụng chất gây ảo giác với ảo giác chiếm ưu thế.

- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm gây án và hiện nay Nguyễn Thị T mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Ngày 23/8/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BĐ, tỉnh Bình Phước có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Thị T. Ngày 24/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp ban hành quyết định số 01/QĐ-VKS, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Thị T.

Ngày 03/03/2021, Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa có Thông báo số 171/TB-VPYTW, về kết quả điều trị chữa bệnh bắt buộc, kết quả tình trạng tâm thần của Nguyễn Thị T đã ổn định, không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Ngày 10/3/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BĐ, tỉnh Bình Phước ban hành quyết định trưng cầu giám định tình trạng tâm thần và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của Nguyễn Thị T tại thời điểm hiện tại.

Tại Kết luận giám định tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 354/KLBB-VPYTW ngày 18/5/2021, Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa, kết luận: Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc. Nguyễn Thị T có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ ra quyết định đình chỉ điều trị bắt buộc đối với Nguyễn Thị T.

Ngày 24/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ ban hành Quyết định số 01/QĐ-VKS, đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Thị T. Ngày 25/5/2021, Nguyễn Thị T bị bắt tạm giam theo lệnh bắt bị can và quyết khôi phục điều tra vụ án hình sự của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BĐ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 08/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp quyết định xử phạt Nguyễn Thị Trang 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2021 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018 đến ngày 27/8/2018.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp còn quyết định về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bản án nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Ngày 29/11/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước ban hành Báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm số 452/BC-VKS, đề nghị Viện trưởng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần áp dụng pháp luật đối với Nguyễn Thị Trang, vì quyết định hình phạt không trừ vào thời gian bị cáo bị áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc.

Ngày 07/12/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VC3-V1, kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Trang để xé xử sơ thẩm lại.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận toàn bộ Kháng nghị số 05/QĐ-VC3-V1 ngày 07/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ngày 01/6/2018, Nguyễn Thị T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,3991 gam tại nhà ở ấp TN, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước đã xét xử Nguyễn Thị Trang về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với nội dung kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy:

Trong quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Thị T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018 đến ngày 27/8/2018 và bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh từ ngày 27/8/2018 đến ngày 25/5/2021. Căn cứ tại Điều 49 Bộ luật hình sự quy định thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước khi quyết định hình phạt đối với T chỉ trừ thời gian T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018 đến ngày 27/8/2018 mà không trừ vào thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 27/8/2018 đến ngày 25/5/2021 là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Thị T. Vì vậy, phải hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị T để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Do đó, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên

không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VC3-V1 ngày 07/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HS-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước về phần trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị T để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

5. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ