- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn A về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn A về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2021/QĐST-VDS | Bến Cát, ngày 15 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Trần Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 182/2021/TLST-VDS ngày 04 tháng 11 năm 2021 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 16/2021/QĐST-VDS ngày 01 tháng 12 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tấn A, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1968; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
2. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1945; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có Đơn xin giải quyết vắng mặt.
3. Bà Nguyễn Thị NC, sinh năm 1970; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có Đơn xin giải quyết vắng mặt.
4. Bà Nguyễn Thị NL, sinh năm 1971; địa chỉ thường trú: Số Y ĐTL, tổ B, khu Z, phường PL, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có Đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi ngày 07/6/2021 và ý kiến trình bày tại phiên họp xét việc dân sự của ông Nguyễn Tấn A cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ, nội dung sự việc như sau:
Ông Nguyễn Tấn A là em ruột của ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1968; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Cha, mẹ ruột của ông L là ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1942 (chết năm 2020) và bà Phạm Thị C, sinh năm 1945. Ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị C có 04 người con chung gồm:
1. Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1968; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
2. Bà Nguyễn Thị NC, sinh năm 1970; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
3. Bà Nguyễn Thị NL, sinh năm 1971; địa chỉ thường trú: Số Y ĐTL, tổ B, khu Z, phường PL, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương;
4. Ông Nguyễn Tấn A, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Ông Nguyễn Tấn L có vợ là bà Ung Thị Q, sinh năm 1969. Tuy nhiên, ông L và bà Q đã ly hôn từ năm 2005 theo Bản án số 09/2005/HNGĐ-ST ngày 26/7/2005 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông Nguyễn Tấn L có 01 (một) người con duy nhất là anh Nguyễn TQ, sinh năm 1993 (chết năm 2019).
Trước đây, sức khỏe của ông L bình thường. Đến năm 2015, ông L bắt đầu bị bệnh nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương (hay còn gọi là Bệnh viện 512 giường) với chẩn đoán: Tai biến mạch máu não/ Cao huyết áp, xuất viện về nhà đi lại yếu. Năm 2017, ông L tiếp tục nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cũng như chẩn đoán năm 2015. Năm 2018, ông L nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương với chẩn đoán: Tai biến mạch máu não/ Cao huyết áp, xuất viện về nhà nằm một chỗ, không đi lại được, liệt ½ người trái, không nói được, ăn uống và vệ sinh cơ thể phải có người chăm sóc. Tháng 02/2019, ông L bị tai biến do biến chứng của bệnh cao huyết áp. Sau lần tai biến này, sức khỏe của ông Nguyễn Tấn L giảm sút mạnh. Hiện nay, ông L đang điều trị ngoại trú cao huyết áp với thuốc Amlodipin 10mg/ngày. Tình trạng sức khỏe của ông Nguyễn Tấn L đang yếu dần, tiếp xúc với người khác hạn chế, không có cảm xúc, nằm một chỗ, không đi lại, không nói chuyện được, trí nhớ, trí tuệ giảm sút nặng. Để thuận tiện cho việc giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến ông L và cần có người giám hộ cho ông L. Do đó, ông Nguyễn Tấn A yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tuyên bố ông Nguyễn Tấn L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đề nghị chỉ định ông Nguyễn Tấn A làm người giám hộ cho ông Nguyễn Tấn L.
Ý kiến của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Phạm Thị C, bà Nguyễn Thị NC và bà Nguyễn Thị NL: Thống nhất lời trình bày của ông A về việc tuyên bố ông L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đồng thời cũng thống nhất cử ông A (em ruột ông L) làm người giám hộ cho ông L.
Tại phiên họp:
Người yêu cầu ông Nguyễn Tấn A giữ nguyên yêu cầu và các ý kiến đã trình bày, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
- Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369, 377 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào Điều 23, 46, 47, 48, 49, 53, 54, 57, 58, 136 Bộ luật Dân sự; Điều 376, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự, bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 572/KL-VPYTW ngày 16/11/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa và các Biên bản xác minh của Tòa án, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Tấn A về việc tuyên bố ông Nguyễn Tấn L khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đồng thời chỉ định ông A làm người giám hộ cho ông L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân nhân dân thị xã Bến Cát nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo Đơn yêu cầu của ông Nguyễn Tấn A về việc yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Tấn L khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông Nguyễn Tấn L có địa chỉ thường trú tại Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố Tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Phạm Thị C, bà Nguyễn Thị NC và bà Nguyễn Thị NL có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp theo quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của ông A về việc tuyên bố ông Nguyễn Tấn L có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, xét thấy:
Căn cứ vào lời khai của ông Nguyễn Tấn A: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1968 là anh ruột của ông A hiện tại tỉnh, nhưng tiếp xúc với người khác hạn chế, cảm xúc thờ ơ, bàng quan, mất ngôn ngữ, trí nhớ, trí tuệ giảm sút nặng. Gia đình đã đưa ông L đi điều trị ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương nhưng tình tình trạng trên của ông L vẫn không thay đổi. Hiện nay ông L đang điều trị ngoại trú cao huyết áp với thuốc Amlodipin 10mg/ngày. Kể từ khi ông L bị bệnh nặng tháng 02/2019 cho đến nay, ông A đã đưa ông L về nhà ông A sinh sống và cũng là người trực tiếp chăm sóc, điều trị bệnh cho ông L. Để thuận tiện cho việc giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến ông L, ông A yêu cầu Tòa án tuyên bố ông L khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đề nghị chỉ định ông Nguyễn Tấn A làm người giám hộ cho ông Nguyễn Tấn L.
Ngày 08/11/2021, ông A có đơn yêu cầu giám định sức khỏe tâm thần của ông Nguyễn Tấn L. Trên cơ sở đơn yêu cầu của ông A, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát ra Quyết định trưng cầu giám định số 01/2021/QĐ-TCGĐ ngày 08/11/2021 trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa thực hiện việc giám định tâm thần đối với ông Nguyễn Tấn L. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 572/KL-VPYTW ngày 16/11/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, Hội đồng giám định đã kết luận: Về y học, hiện nay đương sự bị bệnh mất trí nhớ trong bệnh mạch não (F01-ICD.10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cần người giám hộ.
Kết luận giám định pháp y tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa phù hợp với lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tình trạng hiện tại của ông L. Do đó, việc ông Nguyễn Tấn A yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn L khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ chấp nhận, phù hợp quy định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự.
Về việc chỉ định người giám hộ:
Căn cứ vào các Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cùng ngày 30/11/2021 xác nhận ông L có vợ là bà Ung Thị Q, sinh năm 1969 (đã ly hôn năm 2005 theo Bản án số 09/2005/HNGĐ-ST ngày 26/7/2005 của Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Bến Cát, tỉnh Bình Dương) và 01 người con ruột là anh Nguyễn TQ, sinh năm 1993 (đã chết năm 2019). Cha ruột ông L là ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1942 (chết năm 2020), mẹ ruột ông L là bà Phạm Thị C, sinh năm 1945 và các người em của ông L gồm: Bà Nguyễn Thị NC, bà Nguyễn Thị NL và ông Nguyễn Tấn A. Kể từ khi ông L bị bệnh nặng tháng 02/2019 cho đến nay, ông A đã đưa ông L về nhà ông A sinh sống và cũng là người trực tiếp chăm sóc, điều trị bệnh cho ông L. Bà C, bà NC và bà NL đều từ chối làm người giám hộ của ông L và đồng ý thống nhất cử ông A làm người giám hộ cho ông L. Xét thấy, ông A là người có đầy đủ điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo quy định tại các Điều 46, 47, 48, 49, 53, 54 và 136 của Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp quan điểm giải quyết việc dân sự là phù hợp nên chấp nhận.
Về chi phí giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Tấn L: Ông Nguyễn Tấn A đã thực hiện xong.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tấn A phải chịu theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, điểm 144, 367, 370, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 23, 46, 47, 48, 49, 53, 54, 57, 58, 59 và 136 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn A về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
Tuyên bố ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1968; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Chỉ định ông Nguyễn Tấn A, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Khu phố X, phường TĐ, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương là người giám hộ cho ông Nguyễn Tấn L. Ông A thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57, 58 Bộ luật Dân sự và thực hiện quản lý tài sản của người giám hộ theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí giám định pháp y tâm thần đối với ông Nguyễn Tấn L: Ông Nguyễn Tấn A đã thực hiện xong.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tấn A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2016/0004337 ngày 03/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có mặt có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra Quyết định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Kiều Oanh |