- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thụy Thanh B, về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Số: 04/2021/QĐST-VDS Ngày 09 – 4 – 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Kim Đính
Thư ký phiên họp: Ông Trần Văn Thượng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Ông Phạm Hữu Huỳnh là Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 167/2020/TLST-VDS ngày 09 tháng 10 năm 2020, về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thụy Thanh B, sinh năm ...
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc P, sinh năm ... (bà B và ông P cùng nơi cư trú tại ấp 4, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
(Các đương sự vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
*Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/8/2020, ý kiến yêu cầu của bà Trần Thụy Thanh B trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu như sau:
Bà là em ruột của ông Trần Ngọc P. Từ năm 1980, ông P có bệnh nên thường có những lời nói một mình cả ngày, có hành vi đập phá hủy hoại tài sản trong nhà tại nơi cư trú, có khi đi bộ không ở tại nhà và không xác định được nơi cư trú để về nhà nên gia đình đã đến các Bệnh viện để điều trị bệnh đối với ông P. Bệnh viện tâm thần Trung ương tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai kết luận ông P bị tâm thần phân liệt.
Cha mẹ của bà và ông P là ông Trần Văn J, sinh năm 1937 (đã chết năm 1992) và bà Trịnh Đình Q, sinh năm 1935 (đã chết năm 2004). Bà là em ruột của ông Trần Ngọc P. Người yêu cầu gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Tân Phú để yêu cầu giải quyết việc dân sự, tuyên bố ông Trần Ngọc P mất năng lực hành vi dân sự.
Bà Trần Thụy Thanh B đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ đến Tòa án: Đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của ông P, bản tự khai, giấy chứng minh nhân dân, đơn đề nghị giải quyết việc dân sự vắng mặt bà B, giấy khai sinh Trần Thụy Thanh B; kết luận giám định pháp y tâm thần số 38/KL-VPYTW ngày 13/01/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa (bút lục số 78); sổ hộ khẩu, giấy khai sinh đối với ông P, giấy xác nhận khuyết tật, sổ điều trị bệnh mãn tính, phiếu khám sức khỏe tâm thần đối với ông P (bản sao); trích lục khai tử đối với ông J, bà Q; các văn bản ủy quyền của người thân thích với người yêu cầu (bản chính), các giấy khai sinh đối với người thân thích là anh chị em với bà B.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý giải quyết việc dân sự của Tòa án về quan hệ pháp luật, người tham gia tố tụng, thẩm quyền thụ lý việc dân sự, thời hiệu yêu cầu, xử lý đơn yêu cầu, thông báo thụ lý việc dân sự, tống đạt văn bản tố tụng, gửi hồ sơ việc dân sự đến Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 5 khoản 6 Điều 68, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 174, Điều 175, Điều 177, Điều 184, Điều 185, Điều 365, khoản 3 Điều 366 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án thụ lý ngày 09/10/2020 đến ngày 26/3/2021 có quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự là vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 366 của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án áp dụng các Điêu 369, Điều 370 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của bà B (tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Trần Ngọc P); người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự; ý kiến Kiểm sát viên tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thụy Thanh B yêu cầu Tòa án tuyên bố: Ông Trần Ngọc P có nơi cư trú tại ấp 4, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mất năng lực hành vi dân sự nên xác định quan hệ pháp luật việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người yêu cầu có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu giải quyết việc dân sự. Tòa án quyết định tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt bà B là phù hợp khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về người tham gia tố tụng: Bà Trần Thụy Thanh B chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, tuyên bố ông P mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự này không có liên quan đến quyền lợi hợp pháp của Trần Vĩnh L, Trần Thanh H, Trần Thị Xuân M, Trần Thị Xuân H, Trần Đức M, Trần Ngọc A, Trần Thụy Vĩnh T là người thân thích của bà B nên những người này không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự này là phù hợp khoản 5, khoản 6 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Giải quyết yêu cầu của bà B: Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên thì ông Trần Ngọc P là con ông Trần Văn J và con bà Trịnh Đình Q. Trước năm 1980 ông P là người bình thường, đến năm 1980 ông có hành vi khác thường là có những lời nói một mình cả ngày, đập phá tài sản trong gia đình. Đến nay phải cần có người phụ giúp đối với hoạt động của ông mỗi ngày.
Ngày 26/10/2020, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có quyết định trưng cầu giám định về tình trạng tâm thần đối với ông P tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai).
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 38/KL-VPYTW ngày 13/01/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận (đối với ông Trần Ngọc P): Về y học, hiện nay: Đương sự bị tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5 – ICD.10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Xét yêu cầu của bà B đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Ngọc P mất năng lực hành vi dân sự. Theo tài liệu hồ sơ việc dân sự là chứng cứ chứng minh ông Trần Ngọc P mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên chấp nhận yêu cầu của bà B là phù hợp Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 376, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thụy Thanh B là người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí Tòa án.
. Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà B, tuyên bố ông Trần Ngọc P mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp chứng cứ hồ sơ việc dân sự và quy định của pháp luật nêu trên nên chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 372, khoản 1 Điều 376, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thụy Thanh B, về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Tuyên bố: Ông Trần Ngọc P, sinh năm 1959; nơi cư trú tại ấp 4, xã Phú Điền, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mất năng lực hành vi dân sự.
2. Bà Trần Thụy Thanh B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà đã nộp tại biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số 0003700 ngày 09 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày tống đạt quyết định hợp lệ.
Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú; - Người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ, lưu trữ cơ quan. | THẨM PHÁN Võ Kim Đính |