vanban.org

Quyết định 04/2021/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Anh Lê Sỹ V, sinh năm: 1988 và Chị Trịnh Thị Ng, sinh năm: 1991 Đều trú tại: Thôn Ngọc Lậu 2, xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lê Sỹ V xin ly hôn chị Trịnh Thị Nga"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
  • Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14; Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2021/QĐST-HNGĐĐông Sơn, ngày 21 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN - TỈNH THANH HÓA

Thẩm phán ra quyết định: Bà Lê Thị Tố Như

Người khởi kiện: Anh Lê Sỹ V, sinh năm: 1988

Người bị kiện: Chị Trịnh Thị Ng, sinh năm: 1991

Đều trú tại: Thôn NL 2, xã ĐTh, huyện ĐS, Thanh Hoá.

NỘI DUNG HÒA GIẢI THÀNH:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

[2] Nội dung yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án:

- Về hôn nhân: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Bình, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 17/7/2017. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống .Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2020 cho đến nay, không quan tâm chăm sóc đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh, chị thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng có 01 con chung là cháu Lê Minh Q, sinh ngày 15/7/2014. Ly hôn vợ chồng thống nhất thỏa thuận: Giao cháu Lê Minh Q cho anh Lê Sỹ V trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Chị Trịnh Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy sự thỏa thuận của anh V và chị Ng là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.

- Về tài sản và công nợ: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án ngày 02 tháng 7 năm 2021.

Căn cứ Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 7 năm 2021;

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14 ngày 16/6/2020 của Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Anh Lê Sỹ V, sinh năm: 1988 và Chị Trịnh Thị Ng, sinh năm: 1991

Đều trú tại: Thôn Ngọc Lậu 2, xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, Thanh Hoá.

2. Công nhận hòa giải thành tại Tòa án của các đương sự cụ thể như sau:

- Về hôn nhân: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng thống nhất thuận tình ly hôn.

- Về con: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng có 01 con chung là cháu Lê Minh Q, sinh ngày 15/7/2014. Ly hôn vợ chồng thống nhất thỏa thuận: Giao cháu Lê Minh Q cho anh Lê Sỹ V trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Chị Trịnh Thị Ng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Ng có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản và công nợ: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về lệ phí: Anh Lê Sỹ V và chị Trịnh Thị Ng không phải chịu lệ phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ