- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người đã chết Phạm Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phạm Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2021/QĐST-DS | Bình Dương, ngày 07 tháng 10 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hoàng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Đặng Hà Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 10 năm 2021, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1947; địa chỉ: Số 10, quốc lộ 13, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 28/11, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền ngày 21/7/2020).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1967; địa chỉ: 1 a Ramsay ST Canleyvale NSW 2166 Australia.
2. Bà Nguyễn Thị Thúy H2, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 10, quốc lộ 13, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 01/6/2020, lời khai trong quá trình tố tụng, người yêu cầu bà Phạm Thị H (người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Thanh T) trình bày:
Năm 1966, bà H và ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1939 kết hôn với nhau, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Trích lục chứng thư hôn thú số 51 ngày 10/4/1969 của Ủy ban hành chính lâm thời xã A, quận K, tỉnh Kiên Giang. Quá trình chung sống, bà H, ông T1 có 02 người con chung là Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1967, Nguyễn Thị Thúy H2, sinh năm 1969. Do ông T1 là quân nhân nên thường xuyên đi công tác xa, rất lâu mới về thăm gia đình, lần cuối cùng gia đình bà H gặp ông T1 là năm 1972. Từ năm 1972 đến nay (không xác định được ngày tháng), gia đình bà H không nhận được bất kỳ thông tin gì về ông T1, sau năm 1975 bà H có về quê ông T1 ở Kiên Giang để hỏi thăm thì địa phương báo không biết, đồng thời gia đình bà H đã tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích của ông T1.
Nay, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1939; hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang đã chết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị Thúy H2 trình bày: Thống nhất trình bày, yêu cầu của người yêu cầu bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương nhận định:
Về tố tụng:
Bà H yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1939; hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang là đã chết; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H1 ở nước ngoài nên yêu cầu của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương theo khoản 4 Điều 27, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu ông T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1, bà H2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt đương sự nêu trên.
Về nội dung:
Bà H yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1939; hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang là đã chết. Các người con của bà H, ông T1 là bà H1, bà H2 cũng thống nhất yêu cầu của bà H (bà H1 có văn bản trình bày).
Quá trình tố tụng, Tòa án đã ra Quyết định số 01/2021/QĐST-VDS ngày 09/3/2021 về việc thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1939; hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang) theo quy định tại Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H đã thực hiện đăng báo trong 03 (ba) số liên tiếp trên Báo Công lý vào các ngày 23, 26, 30/3/2021 và phát sóng 03 (ba) lần trong 03 (ba) ngày liên tiếp trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào các ngày 25, 26, 27/3/2021, nhưng vẫn không nhận được thông tin gì liên quan đến ông T1.
Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang ngày 08/6/2021 thì xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang trước đây là xã A, huyện K cũ.
Tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.
Xét, ông T1 biệt tích từ năm 1972 đến nay và không có tin tức xác thực là còn sống từ năm 1972 cho đến nay, bà H và các con đã tìm kiếm nhưng không có tin tức là còn sống hay đã chết; người yêu cầu bà H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1, bà H2 đều thống nhất yêu cầu tuyên bố ông T1 là đã chết, hiện nay ông T1 đã biệt tích hơn 05 năm. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 391 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu của bà H là có cơ sở chấp nhận.
Bà H không xác định cụ thể ngày tháng có tin tức cuối cùng của ông T1, theo trình bày của bà H thì năm 1972 ông T1 biệt tích cho đến nay. Do vậy, ngày ông Nguyễn Văn T1 chết được xác định là ngày 01/01/1978 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về lệ phí: Bà H được miễn nộp do là người cao tuổi.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 4 Điều 27; Điều 37; Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 370, Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Căn cứ các Điều 71, 72 Bộ luật Dân sự năm 2015,
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Phạm Thị H.
Tuyên bố ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1939; hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang (nay là xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang) là đã chết vào ngày 01/01/1978.
Quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân khác của ông Nguyễn Văn T1 được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị H được miễn nộp.
Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Cục THADS tỉnh Bình Dương; - UBND xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang; - Đương sự; - Lưu: Tổ HCTP, Tòa Dân sự, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Duyên Hằng |