vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 16/04/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1963; Nơi ĐKHKTT: Tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng.

Tuyên bố: Ông Lê Công K, sinh năm: 1959; Nơi ĐKHKTT: Tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng. Nơi cư trú: K69/01 đường N, tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng đủ năng lực hành vi dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng bà Huỳnh Thị L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1963; Nơi ĐKHKTT: Tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN S- TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐST-VDSSơn trà, ngày 16 tháng 4 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phùng Anh Dũng.

Thư ký phiên họp: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S tham gia phiên họp: Ông Đoàn Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 05/2020/TLST-VDS ngày 11 tháng 3 năm 2020, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 05/2019/QĐ - TA ngày 25 tháng 3 năm 2020, quyết định hoãn phiên họp số: 05/2020/QĐST-DS ngày 03/4/2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1963; Nơi ĐKHKTT: Tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng. Nơi cư trú: K69/01 đường N, tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng. Người được ủy quyền: Ông Lê Công T, sinh năm: 1994. Trú tại: K69/01 đường N, tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng theo Giấy ủy quyền số chứng thực 41, quyển số 01/2020 – SCT/CK, ĐC5 ngày 09/3/2020 tại UBND phường P, quận S, TP. Đà Nẵng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong quá trình giải quyết và tại phiên họp hôm nay ông Lê Công T – Người được ủy quyền của bà Huỳnh Thị L trình bày:

Ông Lê Công K, sinh năm: 1959 có quá trình sinh đẻ, phát triển về thể chất và tâm thần hoàn toàn bình thường, học hết lớp 9/12 thì nghỉ do giải phóng; lớn lên học và sinh sống bằng nghề thợ mộc. Năm 1982, ông K kết hôn với bà Huỳnh Thị L sinh được 05 người con là: Lê Công L, sinh năm: 1982; Lê Thị L, sinh năm: 1985; Lê Thị P, sinh năm: 1988; Lê Công T, sinh năm: 1991 và Lê Công T, sinh năm: 1994. Từ năm 2004, ông K bắt đầu thường xuyên uống rượu, mỗi ngày uống khoảng 500ml rượu trắng, uống từ sáng sớm và ngay cả khi bụng đói. Sau khi uống rượu vào, ông K thường nói nhảm, gây rối, quậy phá, đập phá đồ đạc, đánh người thân, đi lang thang, đêm ít ngủ. Gia đình có đưa ông K đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng nhưng không đều. Năm 2008 ông K bị tai biến mạch máu não, liệt ½ người trái, được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng khoảng 01 tháng thì xuất viện. Sau khi ra viện, ông K không đi lại được, chỉ nằm mộ chỗ nhưng được tập phục hồi chức năng nên tình trạng có cải thiện, khoảng 02 tháng sau thì đi lại được nhờ dụng cụ hỗ trợ, chân trái vận động được nhưng yếu. Ngày 20/12/2013, ông K được UBND phường P cấp Giấy xác nhận khuyết tật (số hiệu: 0511/ST-PM-12), dạng khuyết tật: vận động, mức độ đặc biệt nặng và hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định. Do đó, bà Huỳnh Thị L xác định ông Lê Công K không còn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi nên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Công K mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết các vụ việc dân sự liên quan đến ông K theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, đảm bảo người yêu cầu thực hiện đầy đủ quyền của mình theo quy định.

- Về nội dung: Theo kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung thì hiện nay ông K tỉnh táo, tiếp xúc được, cảm xúc và hành vi ổn định, đêm ngủ được, tự vệ sinh cá nhân được, đi lại khó khăn, cần phải có dụng cụ hổ trợ do yếu chân trái, liệt cứng tay trái. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án nhân dân quận S áp dụng Điều 22 của Bộ luật dân sự; Điều 266, 361, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận S nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật:

Bà Huỳnh Thị L có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng bà là ông Lê Công K mất năng lực hành vi dân sự. Đây là việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điểu 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận S, TP. Đà Nẵng.

Xét yêu cầu của bà Huỳnh Thị L thì thấy:

- Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 178/KLGĐTC ngày 19/3/2020 của Trung Tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung đối với trường hợp ông Lê Công K thì tại thời điểm hiện tại kết luận về y học: Sức khỏe tâm thần bình thường; Kết luận về năng lực hành vi dân sự: Đủ năng lực hành vi dân sự.

Kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung Tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung thấy không phù hợp với lời trình bày của ông Lê Công T – Người được ủy quyền của bà Huỳnh Thị L. Do đó, yêu cầu của bà Huỳnh Thị L là không có căn cứ theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật dân sự nên không chấp nhận.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án nhân dân quận S nên chấp nhận.

Về chi phí cho việc giám định pháp y tâm thần đối với ông Lê Công K: Bà Huỳnh Thị L đã thực hiện xong.

Về lệ phí Tòa án: Bà Huỳnh Thị L phải chịu lệ phí Tòa án theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 266, 361, 376, 378 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự ;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận yêu cầu Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1963; Nơi ĐKHKTT: Tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng. Nơi cư trú: K69/01 đường N, tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng đối với ông Lê Công K.

1. Tuyên bố: Ông Lê Công K, sinh năm: 1959; Nơi ĐKHKTT: Tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng. Nơi cư trú: K69/01 đường N, tổ 33, phường P, quận S, TP. Đà Nẵng đủ năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng bà Huỳnh Thị L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008465 ngày 11/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng. Bà Huỳnh Thị L đã nộp đủ lệ phí.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Cỡ chữ