- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Kiên Long - Thứ, Sức"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỒ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2020/QĐST-KDTM | Quận Lê Chân, ngày 21 tháng 5 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 12 tháng 5 năm 2020 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 05/2020/TLST-KDTM ngày 21 tháng 02 năm 2020.
XÉT THẤY:
Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K; địa chỉ: Đường P, phường V, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc M là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 153/UQ-TGĐ ngày 28/8/2019).
- Bị đơn: Ông Đỗ Đình T, sinh năm 195x và bà Trương Thị S, sinh năm 195y; cùng trú tại: đường T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.
2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về số nợ:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số ngắn hạn số 252/17/HĐTD/1401-4528 ngày 09/6/2017 giữa Ngân hàng TMCP K và ông Đỗ Đình T, bà Trương Thị S, thì tính đến ngày 12/5/2020 ông T và bà S còn nợ Ngân hàng TMCP K số tiền là 457.535.394đ (Bốn trăm năm mươi bẩy triệu, năm trăm ba mươi năm nghìn, ba trăm chín mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc là 349.400.000đ (Ba trăm bốn mươi chín triệu, bốn trăm nghìn đồng); nợ lãi quá hạn là 108.135.394đ (Một trăm linh tám triệu, một trăm ba mươi năm nghìn, ba trăm chín mươi bốn đồng).
Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay là: Nhà và đất tại địa chỉ: Số nhà lô 1/10 đường Thiên Lôi, phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (nay là số 38 Thiên Lôi, phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân, Hải Phòng); Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 030212 NONO; hồ sơ gốc số 3638 do Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng cấp ngày 15/8/2002.
Về phương Tc thanh toán:
Ngân hàng TMCP Kiên Long và ông Đỗ Đình T, bà Trương Thị S cùng thống nhất thỏa thuận như sau:
Chậm nhất đến ngày 30/5/2020 ông T, bà S phải trả cho Ngân hàng số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng);
Chậm nhất đến ngày 30/6/2020 ông T, bà S phải trả tiếp cho Ngân hàng số tiền là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng);
Chậm nhất đến ngày 15/7/2020 ông T và bà S sẽ trả toàn bộ số nợ còn lại cho Ngân hàng.
Nếu ông T và bà S vi phạm cam kết về phương Tc thanh toán nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 01/16/HĐTC-BĐS/1401-4528 ngày 07/01/2016 để thu hồi toàn bộ số nợ trên.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Nếu sau khi xử lý các tài sản thế chấp, số tiền thu được dùng để trả toàn bộ nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng mà còn thừa thì được trả lại cho bên thế chấp. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Đỗ Đình T và bà Trương Thị S phải trả tiếp phần còn thiếu đó cho đến khi tất toán hợp đồng tín dụng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với khoản nợ gốc từ sau ngày hòa giải cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Về án phí: Ông Đỗ Đình T và bà Trương Thị S nhận nộp cả số tiền án phí được làm tròn là 11.150.000đ (Mười một triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại đã nộp là 20.300.000đ (Hai mươi triệu, ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013815 ngày 20/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Lê Chân; - THADS quận Lê Chân; - Đương sự; - Lưu hồ sơ,VP. | THẨM PHÁN Bùi Xuân Vinh |