vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M về việc " Chấp dứt việc nuôi con nuôi".

Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Minh Ch, bà Phạm Thị M đối với anh Phạm Trí C. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh C - Phạm Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M về việc " Chấp dứt việc nuôi con nuôi".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐST-HNGĐThanh Khê, ngày 16 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lưu Thị Hằng.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 462/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 về yêu cầu "Chấm dứt việc nuôi con nuôi" theo Quyết định mở phiên họp số 462/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2020; Thông báo hoãn phiên họp số 462/TB-TA, ngày 11 tháng 12 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Minh Ch, sinh năm 1953 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1957; Cùng địa chỉ: Số 16 đường L, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Trí C, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số 16 đường L, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Phạm Thị M là cô ruột của anh Phạm Trí C, do hoàn cảnh gia đình cháu C, bố mất khi cháu được 04 tháng tuổi, mẹ cháu còn quá trẻ nên bà M đưa anh C về nuôi từ 20 tháng tuổi. Bà Phạm Thị M và chồng là ông Nguyễn Minh Ch làm thủ tục nhận anh Phạm Trí C làm con nuôi theo giấy chứng nhận con nuôi số 01/2012 được Ủy ban nhân dân phường Chính Gián, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng chứng nhận ngày 19/3/2012. Nay anh Phạm Trí C đã thành niên, sống tự lập nên ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Phạm Trí C. Anh C đồng ý chấm dứt việc nuôi con nuôi theo yêu cầu của ông Ch và bà M.

Tại phiên họp hôm nay, ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M, đồng thời áp dụng Điều 25, Điều 26 Luật nuôi con nuôi, tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M đối với ông Phạm Trí C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Phạm Trí C. Đây là quan hệ pháp luật "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, theo quy định tại khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Bà Phạm Thị M là cô ruột của anh Phạm Trí C, do hoàn cảnh gia đình nên bà M đưa anh C về nuôi từ 20 tháng tuổi. Bà Phạm Thị M và chồng là ông Nguyễn Minh Ch làm thủ tục nhận anh Phạm Trí C làm con nuôi theo giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường Chính Gián chứng nhận ngày 19/3/2012. Nay ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M làm đơn tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Phạm Trí C, anh C cũng đồng ý theo yêu cầu của ông Ch và bà M.

Xét yêu cầu của ông Ch, bà M là hoàn toàn tự nguyện, anh Phạm Trí C đã trưởng thành và tự lập được cuộc sống riêng nên căn cứ vào khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi, chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Minh Ch, bà Phạm Thị M về việc “Chấm dứt việc nuôi con nuôi” như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Minh Ch phải chịu.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 25; Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010; khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; các Điều 370, 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Minh Ch và bà Phạm Thị M về việc " Chấp dứt việc nuôi con nuôi".

1. Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Minh Ch, bà Phạm Thị M đối với anh Phạm Trí C.

2. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Minh Ch, bà Phạm Thị M phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ mà ông Ch, bà M đã nộp theo biên lai thu số 002348 ngày 24 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục thi hành án quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

4. Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ