vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Vũ Công L.

Tuyên bố ông Vũ Văn A, sinh năm 1975; Hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất năng lực hành vi dân sự. Người giám hộ của ông Vũ Văn A là ông Vũ Công L, sinh năm 1948; Địa chỉ: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Vu Cong L - Vu Van A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Vũ Công L.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 53 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐST-DSPhú Mỹ, ngày 22 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Nhung

Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên họp: Ông Mai Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 22/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Vũ Công L, sinh năm 1948 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Vũ Văn H, sinh năm 1980 (có mặt)

- Bà Vũ Thị D, sinh năm 1984 (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 03 tháng 02 năm 2020 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ việc, ông Vũ Công L trình bày:

Ông Vũ Công L và bà Vũ Thị T, sinh năm 1950 (đã chết năm 2009) là vợ chồng. Trong thời gian sinh sống, ông L và bà T sinh được ba người con là các ông (bà) Vũ Văn A, Vũ Văn H, Vũ Thị D. Trong ba người con có ông Vũ Văn A bị bệnh, ông L đã đưa ông A đi khám tại Bệnh viện tâm thần Biên Hòa, bệnh viện xác định ông A bị tâm thần phân liệt thể căng trương lực. Vì vậy, gia đình đã gửi ông A đến điều trị tại Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Do bị bệnh nên ông A không thể tự mình tham gia các giao dịch dân sự. Vì vậy, ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn A, sinh năm 1975, hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất năng lực hành vi dân sự. Yêu cầu cử ông Vũ Công L làm người giám hộ và cử ông Vũ Văn H làm người giám sát việc giám hộ (theo biên bản họp mặt gia đình ngày 03/02/2020). Đồng thời tuyên bố ông Vũ Công L là người đại diện hợp pháp cho ông A theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai và tại phiên họp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Vũ Văn H trình bày: Ông H là con của ông Vũ Công L và bà Vũ Thị T (đã chết năm 2009). Trong ba anh chị em, ông Vũ Văn A bị tâm thần phân liệt thể căng trương lực. Để thuận tiện thực hiện các giao dịch dân sự, ông H đồng ý việc ông Vũ Công L yêu cầu tuyên bố ông Vũ Văn A mất năng lực hành vi dân sự, ông H đồng ý là người giám sát việc giám hộ.

Bà Vũ Thị D trình bày: Bà D là con của ông Vũ Công L và bà Vũ Thị T (đã chết năm 2009). Trong ba anh chị em, ông Vũ Văn A bị tâm thần phân liệt thể căng trương lực. Để thuận tiện thực hiện các giao dịch dân sự, bà D đồng ý việc ông Vũ Công L yêu cầu tuyên bố ông Vũ Văn A mất năng lực hành vi dân sự, đồng ý cử ông H là người giám sát việc giám hộ. Do bận công việc nên bà xin vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự.

Tại phiên họp, ông Vũ Công L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn A mất năng lực hành vi dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ thụ lý giải quyết việc dân sự đúng thẩm quyền theo quy định tại các điều 27, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập các tài liệu, chứng cứ, lời khai đầy đủ theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, kể từ ngày thụ lý đến ngày mở phiên họp xét đơn yêu cầu là chậm theo quy định tại Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng là đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ vào đơn yêu cầu, lời trình bày của ông Vũ Công L, ông Vũ Văn H, bà Vũ Thị D và bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 975/KLGĐ ngày 06/3/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố Hồ Chí Minh kết luận ông A mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Như vậy, việc ông L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự.

Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22, Điều 149 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quyết định giải quyết việc dân sự theo hướng chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Vũ Văn A. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông L được miễn nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ nhận định:

Về tố tụng:

Ông Vũ Công Lg có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn A, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất năng lực hành vi dân sự là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Vũ Công L là cha của ông Vũ Văn A, do ông A bị tâm thần phân liệt thể căng trương lực nên không thể tự thực hiện các giao dịch dân sự. Do đó, việc ông Vũ Công L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn A mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp với khoản 1 Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu:

Xét thấy: Ngày 31/12/1998, ông Vũ Văn A được gia đình đưa đi khám bệnh tại Bệnh viện tâm thần Biên Hòa. Sau thời gian khám và điều trị tại Bệnh viện tâm thần Biên Hòa xác nhận ông A bị tâm thần phân liệt thể căng trương lực. Ông Vũ Công L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Văn A mất năng lực hành vi dân sự để gia đình cử người đại diện cho ông A xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của ông A.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 975/KLGĐ ngày 06/3/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Căn cứ Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế thế giới về các rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD-10); căn cứ Thông tư số 23/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy trình Giám định pháp y tâm thần.

Về y học: Đương sự tâm thầm phân liệt thể di chứng giai đoạn đang tiến triển (F20.50- ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Do đó căn cứ khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự thì có đủ căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của ông Vũ Công L về việc tuyên bố ông Vũ Văn A mất năng lực hành vi dân sự.

Do ông Vũ Văn A không có vợ con nên căn cứ vào Điều 46, khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự thì ông Vũ Công L (cha ruột) là người giám hộ đương nhiên của Vũ Văn A.

Ông Vũ Công L, ông Vũ Văn H và bà Vũ Thị D cùng thống nhất cử ông Vũ Văn H là người giám sát việc giám hộ, ông Vũ Văn H đồng ý là người giám sát việc giám hộ. Căn cứ Điều 51 Bộ luật Dân sự thì việc cử người giám sát việc giám hộ của các đương sự là phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Dân sự, chấp nhận ông Vũ Công L là người đại diện theo pháp luật của ông Vũ Văn A.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Vũ Công L là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí Tòa án theo luật định.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 361, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 22, 46, 51, 53, 57, 58, 59, 136, 141 Bộ luật Dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Điều 2 Luật Người cao tuổi.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Vũ Công L.

Tuyên bố ông Vũ Văn A, sinh năm 1975; Hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mất năng lực hành vi dân sự.

Người giám hộ của ông Vũ Văn A là ông Vũ Công L, sinh năm 1948; Địa chỉ: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người giám sát việc giám hộ là ông Vũ Văn H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu phố 4, phường H, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Dân sự, ông Vũ Công L là người đại diện theo pháp luật của ông Vũ Văn A.

Phạm vi đại diện: Căn cứ Điều 141 Bộ luật Dân sự, ông Vũ Công L có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của ông Vũ Văn A, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ông L không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ông L phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp tiền lệ phí Tòa án cho ông Vũ Công L.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ