vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/06/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Ngọc A.

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1936) là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Phạm Thị Ngọc A làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị M; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Bà Phạm Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị M là người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
---------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐST-DSThanh Khê, ngày 26 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thanh Mai

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê,TP Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 66/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2020 về yêu cầu Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp số: 66-2/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Ngọc A, sinh năm 1982, địa chỉ: A23-03 Chung cư H, phường Thạc G, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng; Có mặt.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1936, địa chỉ: A23-03 Chung cư H, phường Thạc G, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng; Vắng mặt.

2. Ông Phạm Phú P, sinh năm 1959; Vắng mặt.

3. Bà Phạm Thị P1, sinh năm 1966; Vắng mặt.

4. Ông Phạm Phú Đ, sinh năm 1968; Vắng mặt.

5. Bà Phạm Thị P, sinh năm 1970; Vắng mặt.

6. Ông Phạm Phú D, sinh năm 1973; Có mặt.

7. Ông Phạm Phú D1, sinh năm 1978; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: 23 đường Ng, phường Nghĩa Ch, TP Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi;

8. Ông Trần Văn T, sinh năm 1964; Vắng mặt.

9. Ông Trần Văn K, sinh năm 1986; Vắng mặt.

10. Bà Trần Thị Kiều Tr, sinh năm 1988; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: 598 đường Ph, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo trình bày của người yêu cầu là bà Phạm Thị Ngọc A tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp hôm nay thì: Bà Phạm Thị Ngọc A là con của bà Nguyễn Thị M và ông Phạm C (đã chết). Ông C và bà M có tất cả 08 người con gồm: ông Phạm Phú P, bà Phạm Thị P1, ông Phạm Phú Đ, bà Phạm Thị P, ông Phạm Phú D, ông Phạm Phú D1, bà Phạm Thị Ngọc A và bà Phạm Thị H. Bà H (đã chết) có chồng là ông Trần Văn T và 02 người con là ông Trần Văn K và bà Trần Thị Kiều Tr.

Vào tháng 9 năm 2019, bà Nguyễn Thị M bị té, chấn thương sọ não phải nhập viện điều trị. Sau khi được xuất viện, từ tháng 11 năm 2019 đến nay bà M không nói được, không đi lại được, không có biểu cảm gì ngoài những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Do vậy, bà Phạm Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị M là người mất năng lực hành vi dân sự; chỉ định bà Phạm Thị Ngọc A làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Phú D là người giám sát việc giám hộ.

Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có văn bản trình bày thống nhất với yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc A.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về việc giải quyết việc dân sự; đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc A, tuyên bố bà Nguyễn Thị M mất năng lực hành vi dân sự, chỉ định bà Phạm Thị Ngọc A làm người giám hộ và ông Phạm Phú D là người giám sát việc giám hộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị M là người mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc gia đình. Yêu cầu này của bà Phạm Thị Ngọc A là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Phạm Phú P, bà Phạm Thị P1, ông Phạm Phú Đ, bà Phạm Thị P, ông Phạm Phú D1, ông Trần Văn T, ông Trần Văn K và bà Trần Thị Kiều Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp nhưng họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, Tòa án mở phiên họp xét việc dân sự vắng mặt những người này theo Khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị M và ông Phạm C (đã chết) có tất cả 08 người con gồm: ông Phạm Phú P, bà Phạm Thị P1, ông Phạm Phú Đ, bà Phạm Thị P, ông Phạm Phú D, ông Phạm Phú D1, bà Phạm Thị Ngọc A và bà Phạm Thị H (đã chết; có chồng là ông Trần Văn T và 02 người con là ông Trần Văn K và bà Trần Thị Kiều Tr).

Do bà Nguyễn Thị M bị té, chấn thương sọ não, đến nay không nói được, không đi lại được, không có biểu cảm gì nên 01 người con của bà M là Phạm Thị Ngọc A yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị M là người mất năng lực hành vi dân sự.

Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Ngọc A thì thấy:

Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 510/KLGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận: Tại thời điểm hiện tại, về mặt y học thì bà Nguyễn Thị M mất trí mạch máu khởi phát cấp (F01.0); về mặt năng lực hành vi dân sự thì bà Nguyễn Thị M mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, phần trình bày của người yêu cầu là có căn cứ, phù hợp với Kết luận giám định trên và phù hợp với tình trạng hiện tại của bà Nguyễn Thị M. Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Ngọc A tuyên bố bà Nguyễn Thị M mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật dân sự.

Tất cả những người con của bà Nguyễn Thị M đã thống nhất thỏa thuận chỉ định bà Phạm Thị Ngọc A làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị M và ông Phạm Phú D là người giám sát việc giám hộ. Xét sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.

Lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí trưng cầu giám định bà Phạm Thị Ngọc A phải chịu theo quy định pháp luật.

Các đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Từ những căn cứ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 19, 22, 48, 51, 53, 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự và Khoản 1 Điều 27, điểm a Khoản 2 Điều 35, các Điều 367, 371, 372, 376, 377, 378 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phạm Thị Ngọc A.

1. Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1936) là người mất năng lực hành vi dân sự.

Bà Phạm Thị Ngọc A làm người giám hộ cho bà Nguyễn Thị M;

Ông Phạm Phú D là người giám sát việc giám hộ.

Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ được thực hiện theo quy định tại các Điều 57, 58, 59 Bộ luật Dân sự.

Quyền và nghĩa vụ của người giám sát việc người giám hộ được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 51 Bộ luật Dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị Ngọc A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0001968 ngày 21 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng; đã nộp đủ.

Chi phí giám định pháp y tâm thần: Bà Phạm Thị Ngọc A phải chịu 5.233.800đ (năm triệu, hai trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm đồng); đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát có quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định này theo quy định pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ