- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố môt người có khó khăn trong nhận thức, điều khiển hành vi"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2020/QĐST-DS | Bình Thủy, ngày 11 tháng 3 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lê Thị Thùy Hương;
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 55/2020/TLST-VDS ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 115/2020/QĐST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1994; Trú tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ; Có mặt.
Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đối với bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964; Trú tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ghi ngày 24/12/2019, quá trình giải quyết và tại phiên họp người yêu cầu chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày:
Bà Nguyễn Thị C là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Huỳnh N, đồng thời chị N cũng là người con duy nhất của bà C. Chồng của bà C là ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1966 và đã chết vào năm 2018. Bà C bị chậm phát triển từ nhỏ, không biết đọc, không biết viết. Trong sinh hoạt thường ngày, bà C có thể tự sinh hoạt cá nhân được, tuy nhiên đôi khi cũng cần sự hỗ trợ của người thân. Thường ngày bà C không làm chủ được hành vi của mình như có biểu hiện la mắng vô cớ. Về nhận thức bà C không có nhận thức đầy đủ, có khó khăn trong việc trả lời những câu hỏi của gia đình, chỉ có thể trả lời vài câu hỏi thông thường. Nay người yêu cầu chị N có yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng quy định, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào trình bày của người yêu cầu và kết luận giám định pháp y tâm thần có trong hồ sơ xác định bà C có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự 2015 thì yêu cầu của chị N là có cơ sở nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy nhận định:
Về tố tụng: Người yêu cầu là chị Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị C trú tại địa chỉ: khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Cho nên xác định đây là vụ việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Về yêu cầu của chị Nguyễn Thị Huỳnh N:
Theo lời trình bày của chị N: Bà C bị chậm phát triển từ nhỏ. Bà C có thể tự mình thực hiện sinh hoạt cá nhân nhưng đôi khi cũng cần sự hỗ trợ của người thân. Thường ngày bà C không làm chủ bản thân có hành động la mắng vô cớ. Bà C chỉ có thể trả lời những câu hỏi đơn giản.
Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 253/2019/KLGĐYC ngày 22/10/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thuộc Bộ y tế kết luận như sau: Về y học, hiện tại bà C có bệnh lý tâm thần là chậm phát triển tâm thần nhẹ(F70-ICD10); Về năng lực, hiện tại bà C hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Bà C có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Qua kết luận giám định pháp y tâm thần nêu trên và xem xét lời trình bày của chị N, xác định: Bà C bị chậm phát triển tâm thần nhẹ, không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức bị mất năng lực hành vi dân sự. Như vậy, chị Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà C có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng chấp nhận yêu cầu của chị N.
Chồng của bà C đã chết, chị N là người con duy nhất của bà C. Hiện tại chị N cũng là người đang trực tiếp chăm sóc bà C. Căn cứ vào Khoản 4 Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ định chị Nguyễn Thị Huỳnh N là người giám hộ cho bà Nguyễn Thị C. Chị Nguyễn Thị Huỳnh N có quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Khoản 2 Điều 57; Khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể xác định quyền, nghĩa vụ của chị N trong việc giám hộ cho bà Nguyễn Thị C như sau:
Về quyền: Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ theo quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự.
Về nghĩa vụ: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 57 Bộ luật dân sự.
Lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 23; Điều 57, Điều 58 Bộ luật dân sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Huỳnh N về việc yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964; Trú tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người giám hộ: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1994; Trú tại khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người giám hộ có quyền, nghĩa vụ sau đây:
- Về quyền: Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Về nghĩa vụ: Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ; Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự.
2/ Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Người yêu cầu chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải nộp 300.000(Ba trăm nghìn)đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lại thu số 004302 ngày 04/02/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thủy. Người yêu cầu đã nộp xong lệ phí.
3/Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| *Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND Q.BT; - Lưu: hồ sơ việc dân sự. | TM.HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp (đã ký) Lê Thị Thùy Hương |