- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố chết đối với bà Lê Thị Đ1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn Đ: Tuyên bố bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1963, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H đã chết tính từ ngày 22/01/2000.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2020/QĐST-DS Ngày 19/11/2020 “V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
v/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN - TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thảm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Xuân Thành.
- Thư ký phiên họp: Ông Đào Quang Khuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2020/ST-VDS ngày 10 tháng 6 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2020/QĐPH-VDS ngày 09 tháng 11 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn Đ - sinh năm 1958;
HKTT: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Đ1 - sinh năm 1963.
Sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, ông Lê Văn Đ trình bày: Bố ông là Lê Văn S, sinh năm 1905; mẹ là Vũ Thị R (tên khác Lê Thị S1), sinh năm 1921 (đều đã chết), sinh được 03 người con là: Ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1953; ông Lê Văn Đ, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1963; khi ông Đ2 đi bộ đội trở về gia đình vẫn khỏe mạnh, năm 1978 ông Đ2 kết hôn với bà Giang Thị Đ3, vợ chồng sinh được 03 người con là Lê Văn T, Lê Thị L, Lê Văn N, sau đó ông Đ2 bị bệnh thần kinh, đến ngày 15/8/2005 đã bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay không có tin tức gì. Bà Lê Thị Đ1 sức khỏe yếu bị bệnh hen suyễn từ nhỏ, bà chung sống cùng với bố mẹ, chưa kết hôn với ai sau đó bị bệnh thần kinh, gia đình đã đưa đi điều trị tại bệnh viện và lấy thuốc về điều trị tại nhà, ngày 20/01/1995 bà Đ1 đã bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay, gia đình và địa phương vẫn không có tin tức gì, gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi và làm thủ tục nhắn tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì về bà Đ1, không biết bà Đ1 sống chết như thế nào, ông làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tuyên bố bà Lê Thị Đ1 là đã chết để gia đình hoàn tất các thủ tục theo quy định.
Bà Giang Thị Đ3 là vợ của ông Đ2, là chị dâu của bà Lê Thị Đ1 cũng xác định: Khi bà kết hôn với ông Lê Văn Đ2, bà Đ1 lúc đó sức khỏe đã yếu nhưng chưa bị bệnh thần kinh, bà Đ1 chưa có chồng chung sống cùng với bố mẹ, sau đó bà Đ1 bị thần kinh, gia đình đã đưa đi chữa trị nhưng bệnh không giảm, ngày càng nặng thêm, ngày 20/01/1995 bà Đ1 đã bỏ nhà đi đâu không biết, gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả, đến nay vẫn không có tin tức gì về bà Đ1, nay ông Đ làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Đ1 là đã chết, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Tòa án xác minh với trưởng thôn Tiêu Lâm, cán bộ Tư pháp xã Ngũ Hùng đều xác định bà Lê Thị Đ1 đã bỏ nhà đi biệt tích từ ngày 20/01/1995 đến nay không trở về gia đình và địa phương, không có tin tức gì về bà Đ1, không biết bà Lê Thị Đ1 sống chết như thế nào, nay ông Lê Văn Đ làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị Đ1 là đã chết, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Khoản 4 Điều 27, Điều 391, 392, 393 và Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật dân sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn Đ: Tuyên bố bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1963, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H là đã chết ngày 22/01/2000.
Các quan hệ nhân thân khác của bà Lê Thị Đ1 được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về án phí: Ông Lê Văn Đ thuộc người cao tuổi nên được miễn án phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:
Về tố tụng: Ông Lê Văn Đ có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện tuyên bố bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1963, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H là đã chết. Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương có thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Cụ Lê Văn S, sinh năm 1905 và cụ Vũ Thị R (tên khác Lê Thị S1), sinh năm 1921 (đều đã chết), sinh được 03 người con là: Ông Lê Văn Đ2, sinh năm 1953; ông Lê Văn Đ, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1963; ông Đ2 bị bệnh thần kinh đã bỏ nhà đi biệt tích từ ngày 15/8/2005 đến nay không có tin tức gì. Bà Lê Thị Đ1 sức khỏe yếu bị bệnh hen suyễn từ nhỏ bà chung sống cùng với bố mẹ, chưa kết hôn với ai, sau đó bị bệnh thần kinh thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, gia đình đã đưa đi bệnh viện điều trị và lấy thuốc về điều trị tại nhà nhưng không khỏi, ngày 20/01/1995 bà Đ1 đã bỏ nhà đi biệt tích đến nay không có tin tức gì, không trở về gia đình và địa phương, gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi và đã làm thủ tục nhắn tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì về bà Đ1, không biết bà Đ1 sống chết như thế nào. Nay ông Đ làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tuyên bố bà Lê Thị Đ1 là đã chết theo quy định của pháp luật.
Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện đã làm việc với bà Giang Thị Đ3 là chị dâu của bà Lê Thị Đ1 và xác minh với trưởng thôn T, xã N, huyện T, cán bộ Tư pháp nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng của bà Đ1 đều xác định bà Lê Thị Đ1 biệt tích từ ngày 20/01/1995 đến nay không biết sống chết như thế nào. Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương đã thông báo tìm kiếm bà Lê Thị Đ1 trên Báo Nhân dân 03 số liên tiếp vào các ngày 19,20,21/6/2020 và Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) vào các ngày 18,19,20/6/2020 và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về bà Lê Thị Đ1. Tòa án đã có công văn đề nghị Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác định trong cơ sơ dữ liệu Cục xuất nhập cảnh quản lý không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của bà Lê Thị Đ1.
Sau khi hết hạn 04 tháng Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện tiếp tục xác minh tại địa phương và người thân trong gia đình bà Lê Thị Đ1 vẫn không có tin tức gì về bà Lê Thị Đ1. Để đảm bảo quyền lợi của người yêu cầu và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật dân sự; các Điều 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn Đ tuyên bố bà Lê Thị Đ1 là đã chết. Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xác định ngày có tin tức cuối cùng về bà Lê Thị Đ1 là ngày 21/01/1995.
Về các quan hệ nhân thân khác của bà Lê Thị Đ1 được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Về chi phí đăng phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết: Ông Đ đã thanh toán xong và không có ý kiến gì.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn Đ2 thuộc người cao tuổi nên được miễn án phí giải quyết việc dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, 370, 391, 393 và Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn Đ: Tuyên bố bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1963, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H đã chết tính từ ngày 22/01/2000.
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật, các quan hệ nhân thân khác của bà Lê Thị Đ1 được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn Đ thuộc người cao tuổi được miễn án phí giải quyết việc dân sự, hoàn lại ông Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện theo biên lai số: AA/2017/0003152 ngày 10 tháng 6 năm 2020.
3. Phiên họp sơ thẩm công khai, báo cho ông Đ biết có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Miện; - Người yêu cầu; Người có quyền lợi và NVLQ; - UBND xã N; - Chi cục THADS huyện Thanh Miện; - Lưu hồ sơ vụ án; | VKSND huyện Thanh Miện; Thẩm phán Bùi Xuân Thành |