vanban.org

Quyết định 04/2020/QĐ-TA

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 19/05/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Đỗ Trung A, sinh ngày 19/7/1997.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đỗ Trung A có quyền khiếu nại; Phòng LX, huyện M có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil có quyền khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Đỗ Trung A, sinh ngày 19/7/1997.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2020/QĐ-TAĐắk Mil, ngày 19 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán:Ông Nguyễn Thế Hạnh.

2. Thư ký phiên họp:Bà Nguyễn Thị Xuyến.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 04/2017/QĐ-TA ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Đỗ Trung A, sinh ngày 19/7/1997; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 10/12; Nơi đăng ký HKTT: thôn ĐL, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Đỗ Tấn Đ, sinh năm 1974 và bà: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1976; Không; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự;

(Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Công Bá – Chuyên viên phòng LX, huyện M, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)

NHẬN THẤY:

Vào ngày 27/4/2020 tại phòng trọ số 4, thuộc tổ 7, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Đỗ Trung A đã có hành vi sử dụng ma túy đá, với cách thức sử dụng dùng chai trà xanh O2 đục lỗ , dùng tẩu đưa vào lỗ đã đục ở chai, đổ nước vào, bỏ ma túy dạng đá vào nỏ rồi dùng quẹt ga đốt chất ma túy, tạo thành khói ở trong chai rồi dùng ống hút trên miệng chai, dùng miệng hút khói vào cơ thể. Kết quả xét nghiệm cho thấy Đỗ Trung A có nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine (ATS). Qua kết quả xác minh cho thấy Đỗ Trung A là đối tượng nghiện ma túy dạng đá từ đầu năm 2016 cho đến nay, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, sinh sống lang thang không có nơi cư trú và nghề nghiệp ổn định. Đỗ Trung A đã từng bị UBND xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 20/QĐ-UBND, ngày 28/01/2020 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi bị UBND xã L, huyện M áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì Đỗ Trung A vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Bên cạnh đó bà Nguyễn Thị Kim C là mẹ đẻ của người bị đề nghị khai nhận Đỗ Trung A thường xuyên bỏ nhà đi không biết làm gì, ở đâu, không trở về nhà và cũng không thông báo cho gia đình biết, hiện tại gia đình không quản lý được. Mặc dù gia đình biết Đỗ Trung A nghiện ma túy từ năm 2016 nhưng gia đình đã bất lực với cháu. Chính vì vậy gia đình cũng đã có đơn mong muốn các cơ quan chức năng đưa Đỗ Trung A đi cai nghiện để sớm từ bỏ ma túy làm người có ích cho gia đình và xã hội.

Ý kiến của đại diện Phòng LX, huyện M cơ quan đề nghị: Vẫn giữ nguyên quan điểm như Công văn số 46/LĐTBXH, ngày 12/5/2020, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil đưa đối tượng Đỗ Trung A, sinh ngày 19/7/1997; Hộ khẩu thường trú: thôn ĐL, xã L, huyện M, tỉnh Đắk Nông đi cai nghiện bắt buộc Tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 01. Địa chỉ: thôn 2 - Xã Đăk R'Tih, huyện Tuy Đức, tỉnh ĐăkNông với thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Về mặt trình tự, thủ tục các cơ quan đã tuân thủ đúng theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13, ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013, Nghị định số 136/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đã có đủ căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trung A với thời hạn 24 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, xem xét tại phiên họp. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện phòng LX, huyện M; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil

XÉT THẤY:

Về thủ tục, trình tự: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” của phòng LX, huyện M đối với người bị đề nghị Đỗ Trung A đã hoàn toàn phù hợp và tuân thủ đúng các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về nguyên tắc, đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính đã tuân thủ đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 2 Điều 5 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính tuân thủ đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính cũng đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ Đỗ Trung A khai nhận thường xuyên sử dụng ma túy dạng đá. Ngày 27/4/2020 khi đang sử dụng ma túy đá tại phòng trọ ở tổ 7, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Nông đến ngày 28/4/2020 Công an huyện Đắk Mil mời lên để làm việc và test ma túy. Đỗ Trung A thừa nhận sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2016 cho đến nay, tới thời điểm hiện nay vẫn còn nghiện, Đỗ Trung A thường sử dụng ma túy ở những nơi khác nhau, nên thường xuyên không có mặt tại địa phương, không có nơi cư trú nhất định. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Trung A là cần thiết để giúp Đỗ Trung A chữa bệnh, lao động, học tập và sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét tình tiết tăng nặng thấy rằng: Vào tháng 01 năm 2020 Đỗ Trung A đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L. Như vậy Đỗ Trung A phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tình tiết giảm nhẹ thì thấy: Đỗ Trung A được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành thật khai báo theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên cố tình trốn tránh không chấp hành theo giấy báo của Tòa án nên không xem xét giảm nhẹ.

Xét thấy ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil là có căn cứ và đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 20, 30, 31 và Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Áp dụng các điều 95, 96, 103, 104, 107, 108, 110 và Điều 132 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Đỗ Trung A, sinh ngày 19/7/1997. Tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 01. Địa chỉ: thôn 2 - Xã Đăk R'Tih, huyện Tuy Đức, tỉnh ĐăkNông.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Đỗ Trung A có quyền khiếu nại; Phòng LX, huyện M có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện Đắk Mil; Phòng LX, huyện Đắk Mil phối hợp với cơ sở cai nghiện ma túy số 1 và Đỗ Trung A có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ