- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Đỗ Thị L: Tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2018/VDS Ngày: 23/5/2018 |
QUYẾT ĐỊNH TUYÊN BỐ
MỘT NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Thư ký phiên họp: Ông Trịnh Xuân Đại - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2018/TLST-VDS ngày 23 tháng 4 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2018/QĐST-VDS ngày 10 tháng 5 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Thôn 7, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Hồng D, sinh năm 1968.
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1989.
- Bà Lê Hồng H, sinh năm 1991.
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1993.
- Ông Lê Hồng N, sinh năm 1997.
Cùng địa chỉ: Thôn 7, xã B, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
(Bà Đỗ Thị L, bà Lê Thị L, bà T có mặt; ông N, bà H có đơn xin vắng mặt).
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự.
- Đề nghị cử bà Đỗ Thị L (vợ ông D) làm người đại diện theo pháp luật cho ông D.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào lời trình bày của bà Đỗ Thị L tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin nhận định:
Bà Đỗ Thị L và ông Lê Hồng D chung sống như vợ chồng từ năm 1989 đến ngày 09/7/2004 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện K (nay là huyện C), tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống đến năm 2009 ông D bị té ngã do lên cơn co giật, sau khi đi bệnh viện về thì ông D có biểu hiện rối loạn tâm thần, có lúc kích động, la hét, bỏ nhà đi lang thang, không ý thức được các sự việc diễn ra xung quanh nên gia đình đã đưa ông D đi khám và chữa trị tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên bệnh của ông D không những không thuyên giảm mà có nguy cơ nặng hơn thể hiện lúc nào thấy người là đánh, đập phá đồ đạc, không nhận thức và làm chủ được hành vi. Do đó bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự đồng thời đề nghị Tòa án cử bà là người đại diện theo pháp luật của ông D.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L, bà Lê Hồng H, bà Lê Thị T và ông Lê Hồng N (các con của ông D) trình bày tại bản tự khai nhất trí với phần trình bày theo đơn của bà L đồng thời đề nghị Tòa án cử bà L là người đại diện theo pháp luật của ông D.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin phát biểu: Quá trình giải quyết việc dân sự Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã thực hiện theo đúng trình tự quy định của BLTTDS. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin áp dụng khoản 1 Điều 22, các điều 49, 53, 57, 58, 59 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 376, 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Đỗ Thị L, tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự đồng thời công nhận bà L là người giám hộ đương nhiên của ông D theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận pháp y tâm thần số 22/KLGĐTC ngày 11/4/2018 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực T trong đó kết luận: Đối tượng Lê Hồng D; Giới: Nam; Năm sinh: 1968. Nơi thường trú: thôn 7, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk hiện tại bị tâm thần phân liệt thể di chứng (F20.5-ICD10); hiện tại mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, đại diện Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực T xác định đã giám định trực tiếp trên người bệnh nhân và Kết luận số 22/KLGĐTC ngày 11/4/2018 do Tòa án xác minh là đúng thực tế.
Xét nguyện vọng của bà L cũng như những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị cử bà L là người đại diện theo pháp luật (giám hộ) của ông D; bà L là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tư cách đạo đức tốt, chưa từng vi phạm pháp luật đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 49, khoản 1 Điều 53 BLDS năm 2015 và Điều 378 BLTTDS; đồng thời xác định mọi giao dịch dân sự của ông D đều do bà L xác lập, thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 BLDS năm 2015; thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 57, 58, 59 BLDS năm 2015.
Từ những nhận định nêu trên, Tòa án xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị L tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Đỗ Thị L phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0001379 ngày 19/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 27; các điều 35, 39, 149, 366, 376 và 378 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 22, 49, 53, 57, 58, 59 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Đỗ Thị L: Tuyên bố ông Lê Hồng D mất năng lực hành vi dân sự.
2. Người đại diện theo pháp luật (giám hộ đương nhiên) của ông Lê Hồng D là bà Đỗ Thị L.
3. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ:
- Nghĩa vụ của người giám hộ:
Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
Quản lý tài sản của người được giám hộ;
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Quyền của người giám hộ:
Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
4. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Đỗ Thị L phải chịu 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số AA/2017/0001379 ngày 19/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Cư Kuin; - Người yêu cầu; - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS huyện C; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP NGUYỄN THỊ HỒNG THANH |