- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Trần Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đinh Xuân B đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N, tuyên bố ông Đinh Xuân B, sinh năm 1968; nơi ĐKHKTT: Tổ H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng là đã chết từ ngày 24 tháng 01 năm 1997.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2018/QĐST-VDS | Đồ Sơn, ngày 23 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người là đã chết
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Hữu Trường.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đỗ Thị Quỳnh Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2018/TLST-VDS ngày 02 tháng 7 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2018/QĐST-VDS ngày 20 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị N, nơi cư trú: Tổ B, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cụ Nguyễn Thị K, nơi cư trú: Tổ H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
2. Anh Đinh Xuân D, nơi cư trú: Tổ B, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, bà Trần Thị N trình bày: Bà và ông Đinh Xuân B kết hôn từ năm 1994. Sau khi kết hôn, bà và ông B chung sống cùng gia đình ông B tại tổ H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Vào ngày 24-01-1997, khi ông B đang trên tàu đánh cá tại vùng biển Vịnh Bắc Bộ thì bị ngã xuống biển mất tích từ đó đến nay. Bà N cùng gia đình ông B đã tìm kiếm ông suốt 02 tuần liền nhưng không có tin tức gì nên đã tổ chức tang lễ cho ông B vào tháng 02 năm 1997 và lập bàn thờ để thờ cúng theo phong tục tập quán. Từ đó đến nay, gia đình bà vẫn cố gắng tìm kiếm tung tích của ông B nhưng vẫn không có tin tức gì. Ngày ông B mất tích, bà đã mang thai và sau đó sinh ra anh Đinh Xuân D. Để đảm bảo quyền lợi của bà và những người thân trong gia đình, bà đề nghị Tòa án tuyên bố ông B là đã chết.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự và Điều 370, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Nhật về việc tuyên bố ông B là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đinh Xuân B là đã chết. Đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi cư trú cuối cùng ông B là: Tổ H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quyền yêu cầu: Bà N và ông B là vợ chồng nên bà N có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông B là đã chết.
Xét yêu cầu của bà Nhật:
Lời khai của bà N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xác định: Sau khi kết hôn vào năm 1994, bà N và ông B chung sống cùng gia đình ông B tại tổ H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Ngày 24-01-1997, khi ông B đang trên tàu đánh cá tại vùng biển Vịnh Bắc Bộ thì bị ngã xuống biển mất tích từ đó đến nay. Bà N cùng gia đình ông B đã tìm kiếm ông B suốt 02 tuần liền nhưng không có tin tức gì nên đã tổ chức tang lễ cho ông B vào tháng 02 năm 1997 và lập bàn thờ để thờ cúng theo phong tục tập quán. Từ đó đến nay, gia đình bà vẫn cố gắng tìm kiếm tung tích của ông B nhưng vẫn không có tin tức gì. Ông Đinh Xuân Đ là người đi cùng tàu với ông B, Công an phường N và mẹ đẻ của ông B đều xác nhận việc ông B đã rơi xuống biển, mất tích từ ngày 24-01-1997 đến nay, Công an phường N đã gạch tên ông B trong hồ sơ hộ khẩu 251T5. Đến nay, chính quyền địa phương và những người thân của ông B vẫn không thấy ông B quay về địa phương sinh sống và cũng không có tin tức gì của ông B.
Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và đăng thông báo trên Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố Hải Phòng ngày 20-7-2018, đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao vào các ngày 25, 26 và 27-7-2018; đăng trên Báo Công lý vào ngày 25, 27-7-2018 và 01-8-2018; phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 28, 29 và 30-7-2018. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên, Tòa án vẫn chưa nhận được tin tức gì của ông B.
Xét thấy, ông B bị tai nạn trên biển khi đang đánh cá từ ngày 24-01-1997. Đã sau 02 (Hai) năm kể từ ngày tai nạn, đến nay vẫn không có tin tức xác thực là ông B còn sống; Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông B còn sống nên đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của bà N, tuyên bố ông B là đã chết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về lệ phí: Bà N phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bà N, cụ Nguyễn Thị K và anh Đinh Xuân D có quyền kháng cáo quyết định theo Điều 371 và khoản 1 Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, khoản 1 Điều 372 và Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N, tuyên bố ông Đinh Xuân B, sinh năm 1968; nơi ĐKHKTT: Tổ H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng là đã chết từ ngày 24 tháng 01 năm 1997.
Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông B được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông B được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà N phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm mà bà đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0006836 ngày 29-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; bà N đã nộp đầy đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà N có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Cụ Nguyễn Thị K và anh Đinh Xuân D có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện Kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND quận Đồ Sơn; - Chi cục THADS quận Đồ Sơn; - Đương sự; - UBND phường Ngọc Hải; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự, HCTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Hữu Trường |