- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Đ yêu cầu tuyên bố ông N mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phan Văn Đ về việc tuyên bố ông Phan Văn N mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 04/2018/QĐST-DS. Ngày 19-10-2018. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Phước Tuấn.
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Kim Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 93/2018/TLST-VDS ngày 06 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2018/QĐST-VDS ngày 04 tháng 10 năm 2018 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1986; nơi cư trú ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 22 tháng 6 năm 2018 cũng như lời khai tại phiên họp, người yêu cầu là ông Phan Văn Đ trình bày:
Vào năm 2010, ông Phan Văn N là cha ruột của ông Phan Văn Đ bị bệnh tai biến và hậu quả dẫn đến bệnh tâm thần, hiện nay ông N không nhận thức được, không làm chủ được hành vi của mình và không tự chăm sóc được bản thân. Do ông N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản, ông N không tự tham gia tố tụng trong vụ án được. Nay ông Phan Văn Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn N là người mất nặng lực hành vi dân sự để ông Đ lập thủ tục cử người đại diện hợp pháp cho ông Phan Văn N tham gia tố tụng trong vụ án dân sự nêu trên.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp của Thẩm phán, Thư ký phiên họp, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết việc dân sự, xét thấy tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 195/2018/KLGĐTC ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận: Hiện nay ông Phan Văn N mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần nên yêu cầu của ông Phan Văn Đ là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Theo Thông báo thụ lý việc dân sự số 237/TB-TLVDS ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M, xác định ông Phan Văn N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là không đúng. Nay Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp xác định lại là ông Phan Văn N là người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nên ông Phan Văn N không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.
Về nội dung:
Ông Phan Văn Đ có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn N là người mất năng lực hành vi dân sự để ông Đ lập thủ tục cử người đại diện hợp pháp cho ông Phan Văn N tham gia tố tụng trong vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản, đồng thời ông Đ cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của ông gồm: Sổ hộ khẩu do Công an nhân dân thị trấn H cấp ngày 03 tháng 9 năm 2015, chủ hộ là ông Phan Văn N, ông Phan Văn Đ là con của ông Phan Văn N; giấy chứng minh nhân dân tên Phan Văn Đ, Phan Văn N; giấy khám sức khỏe số 204/GKSK-TTPY ngày 11 tháng 4 năm 2016 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Sóc Trăng đối với ông Phan Văn N; Quyết định số 4140/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng về việc trợ cấp xã hội thường xuyên cho đối tượng người khuyết tật; Quyết định số 4098/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng về việc trợ cấp xã hội thường xuyên cho đối tượng người chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng (tất cả đều là bản chứng thực).
Theo đơn yêu cầu về việc giám định pháp y tâm thần do ông Phan Văn Đ lập ngày 30 tháng 7 năm 2018, Tòa án ban hành Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần số 11/2018/QĐ-TCGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2018 về việc trưng cầu Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ giám định pháp y tâm thần đối với ông Phan Văn N theo quy định tại Điều 377 Bộ luật tố tụng dân sự và Tòa án đã nhận được Kết luận giám định pháp y tâm thần số 195/2018/KLGĐTC ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận: Về y học, hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần: Sa sút tâm thần không biệt định (F03-ICD10); về năng lực: Hiện tại đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.
Theo Điều 22 Bộ luật dân sự quy định về mất năng lực hành vi dân sự thì khoản 1 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”. Do đó, việc ông Phan Văn Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn N mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở, đúng với quy định của pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết việc dân sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là ông Phan Văn Đ phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2016/ 0000065 ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Phan Văn Đ đã nộp xong lệ phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 377 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự;
- Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phan Văn Đ về việc tuyên bố ông Phan Văn N mất năng lực hành vi dân sự.
2. Tuyên bố ông Phan Văn N, sinh năm 1952, giấy chứng minh nhân dân số B do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 23 tháng 9 năm 2003; nơi cư trú ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng mất năng lực hành vi dân sự.
3. Về lệ phí sơ thẩm: Ông Phan Văn Đ phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2016/ 0000065 ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Phan Văn Đ đã nộp xong lệ phí sơ thẩm
4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Đặng Phước Tuấn |