- Tranh chấp gì? "Quyết định số 04/2018/QĐ-TA ngày 26/6/2018"
- Tòa quyết gì? Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| số: 04/2018/QĐ - TA Ngày: 26/6/2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Thuấn.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thúy Hằng
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2018/QĐ-TA, ngày 18 tháng 6 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Trần Văn T. Giới tính: Nam
Sinh ngày: 12/8/1988 CMND số: 240937678; Ngày cấp: 27/12/2007; Nơi cấp: Công an tinh Đẳ
́k Lắk Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12
Nguyên quán: Quảng Nam Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã H, huyê ̣n K, tỉnh Đắk Lắk
Nghề nghiệp: Thợ hồ
Tiền án: Không; tiền sự: Không
Con ông: Trần Văn D (Chết) và bà: Trần Thi ̣ Th (Vắng mă ̣t)
Đối tượng có vợ là Trần Thị Thu (Có mặt)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: ông Huỳnh Văn Cúc - Chức vụ: Phó trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hộị huyện Krông Pắc (có mặt).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc: Bà Phạm Thị Thủy . Chức vụ: Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY
Đối tượng Trần Văn T bị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Pắc đề nghị đưa vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy đối với hành vi như sau: Trần Văn T có tiền sự sử dụng ma túy và đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng từ 12/01/2018 đến 12/4/2018 theo Quyết đi ̣nh số 07/QĐ-UBND ngày 12/01/2018.
Ngày 25/5/2018, Trần Văn T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị cơ quan Công an huyện Krông Pắc lập biên bản về việc sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức sử dụng: Chính.
Ngày 25/5/2018, Công an huyện Krông Pắc lập công văn số 434/CV-CAH đề nghị Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Trần Văn T.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 25/5/2018, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk kết luận: Kết quả xét nghiệm Trần Văn T MET, MOP (+) dương tính loại que test ABON.
Biên bản ghi lời khai, bản tự khai cũng như tại phiên họp hôm nay Trần Văn T khai nhận: Trần Văn T bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 7 năm 2004. Loại ma túy T sử dụng là ma túy heroin, hình thức sử dụng là pha ma tú y vớ i nướ c cất vào kim tiêu, chích vào cơ thể . T bị ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng từ 12/01/2018 đến 12/4/2018. Tuy nhiên, sau khi đã chấp hành xong, Trần Văn T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/5/2018, tại khu vực: Thôn B, xã xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Trần Văn T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là ma túy heroin, hình thức sử dụng là pha ma túy vớ i nướ c cất vào kim tiêu , chích vào cơ thể . Cơ quan Công an huyện Krông Pắc tiến hành trưng cầu xét nghiệm, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Trần Văn T và thử nước tiểu bằng thanh thử Test và kết quả MET, MOP (+) dương tính loại que test ABON.
Tại công văn số 28/LĐTB&XH-PCTNXH ngày 12/6/2018 cũng như tại phiên họp hôm nay đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị Tòa án dụng khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đưa đối tượng Trần Văn T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đề nghị áp dụng là 24 (Hai mươi bốn) tháng.
Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị. Tại phiên họp sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi của người bị đề nghị, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đưa Trần Văn T vào cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 19, Điều 20, Điều 22 pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/1/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát và người tham gia phiên họp. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Păc giải quyết theo hướng chấp nhận hồ sơ đề nghị áp dụng đưa Trần Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY
Tại biên bản sử dụng trái phép chất ma túy ngày 25/5/2018, bản tự khai ngày 11/5/2018, người bị đề nghị Trần Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Lời khai của người bị đề nghị, chị Trần Thị T1 vợ của Trần Văn T phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ việc, cũng như kết quả làm việc tại phiên họp ngày hôm nay.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn T đã có đủ cơ sở xem xét đưa Trần Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016. Do đó đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Pắc là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
1.“ Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.
Xét tính chất mức độ hành vi vi phạm: Hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy của Trần Văn T gây mất trật tự an ninh công cộng, làm phức tạp thêm tình hình quản lý các chất ma túy và góp phần làm gia tăng thêm các tệ nạn xã hội.
Xét ý thức và nhân thân của người bị đề nghị: Bản thân Trần Văn T có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, ý thức được tác hại của việc sử dụng chất ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng do bị lệ thuộc vào chất ma túy nên đã có hành vi sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Trần Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dụng tại xã vào ngày 11 tháng 01 năm 2018 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên sau quá trình chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, Trần Văn T vẫn tiếp tục sử dụng ma túy là vi phạm khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Việc cách ly ra khỏi cộng đồng một thời gian để đưa Trần Văn T đi cai nghiện bắt buộc là điều cần thiết, nhằm mục đích giúp Trần Văn T chữa bệnh, cai nghiện, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội về sau và bảo đảm an ninh trật tự chung cho xã hội.
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ việc người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 cần áp dụng để giảm nhẹ cho người bị đề nghị thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đã được chuẩn bị đầy đủ, chặt chẽ, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Bảo đảm sự tham gia và quyền lợi của người bị đề nghị, không vi phạm về thời hiệu, thời hạn giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Điều 22, Điều 23 và Điều 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T. Tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: xã Tân Tiến, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng, kể từ ngày chấp hành biện pháp xử lý hành chính.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Trần Văn T có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Krông Pắc có quyền kiến nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Krông Pắc; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Pắc; Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
Thẩm phán
| Nơi nhận: - VKSND huyện Krông Pắc; - Phòng LĐTB & XH huyện Krông Pắc; - UBND xã Hòa Tiến - Công an huyện Krông Pắc; - Cơ sở điều trị, cai nghiện MT tỉnh Đắk Lắk; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Duy Thuấn |