- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính trong trường hợp yêu cầu bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị số 01/2018/KN-HC ngày 12-01-2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ chính? Điều 266 Luật Tố tụng hành chính; Điều 272 Luật Tố tụng hành chính; Điều 274 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định giám đốc thẩm Số: 04/2018/HC-GĐT Ngày 08 - 08 - 2018 V/v khiếu kiện Quyết định hành chính trong trường hợp yêu cầu bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
- Thành phần Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có: 14 thành viên tham gia xét xử, do ông Nguyễn Hòa Bình, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ tọa phiên tòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đông, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tối cao.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Ông Phương Hữu Oanh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08-8-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong trường hợp yêu cầu bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất” giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Nhà số 78B/8, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Bà Trần Ánh T; địa chỉ: Nhà số 78B/8, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh B (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 6 năm 2015).
2. Người bị kiện: Chủ tịch UBND tỉnh B.
Địa chỉ: Số 05, Nguyễn T, Phường B, thành phố B, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Bà Ngô Thị B, Thanh tra viên Thanh tra tỉnh B (theo văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 6 năm 2015).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chủ tịch UBND thành phố B, tỉnh B;
3.2. UBND thành phố B, tỉnh B.
Địa chỉ: Số 12, đường T, Phường C, thành phố B, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T, Cán bộ Thanh tra thành phố B (theo văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 7 năm 2015).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 26-7-2007, anh Nguyễn Việt H được UBND thị xã B, tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 309, Tờ bản đồ số 10 có diện tích 300,3 m2 tại Phường A, thị xã B (nay là thành phố B); mục đích sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm.
Ngày 27-12-2010, UBND thành phố B, tỉnh B ban hành Quyết định số 766/QĐ-UBND về việc thu hồi 300,3 m2 đất nêu trên của hộ anh H, để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu dân cư giáp khu tái định cư Bến xe - Bộ đội biên phòng đến đường tránh Quốc lộ 1A.
Ngày 19-7-2011, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 377/QĐ-UBND về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho anh H, theo đó anh H được chi trả bồi thường, hỗ trợ là 105.043.800 đồng; căn cứ Điều 35 Quyết định số 04/2010/QĐ-UBND ngày 05/3/2010 của UBND tỉnh B, chủ hộ cất nhà trên đất nông nghiệp bị giải tỏa trắng nhà ở hiện không có nơi ở nào khác có nhu cầu tái định cư chính đáng thì được xem xét giải quyết bán cho một nền tái định cư (theo lô quy hoạch của dự án) với hình thức nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá quy định của UBND tỉnh, theo đó hộ anh H đủ điều kiện được bố trí một nền tái định cư và được nhà đầu tư hỗ trợ thêm 25.000.000 đồng khi mua nền tái định cư tại dự án.
Không đồng ý với Quyết định nêu trên, anh H có đơn khiếu nại.
Ngày 16-4-2013, Chủ tịch UBND thành phố B, tỉnh B ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND về việc giải quyết yêu cầu, khiếu nại của anh H (do bà Trần Ánh T là người đại diện theo ủy quyền). Theo Quyết định số 63/QĐ-UBND nêu trên, Chủ tịch UBND thành phố B đã xác định không có cơ sở để xem xét giải quyết đơn khiếu nại của anh H yêu cầu bồi thường đất theo từng vị trí có mặt tiền tiếp giáp với đường T; bồi thường đất, tài sản, vật kiến trúc, cây trái hoa màu theo đơn giá năm 2013; giữ nguyên nội dung Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 nêu trên.
Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố B, anh H tiếp tục có đơn khiếu nại.
Ngày 13-11-2013, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2399/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại đối với hộ anh H với nội dung: Không chấp nhận nội dung Đơn khiếu nại của anh H yêu cầu bồi thường theo giá đất ở; đất nông nghiệp yêu cầu hỗ trợ 50% giá đất ở vị trí tương đương liền kề, không đồng ý hỗ trợ 50% theo giá đất ở trung bình; yêu cầu bồi thường nhà, đất theo giá mới đúng như cam kết của chủ đầu tư ngày 26-9-2012; công nhận và giữ nguyên Quyết định số 63/QĐ-UBND ngày 16-4-2013 của Chủ tịch UBND thành phố B.
Ngày 04-6-2015, anh H có đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Tại bản tự khai ngày 20-7-2015, bà Trần Ánh T là người đại diện theo ủy quyền và là mẹ của anh H yêu cầu hủy một phần Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 của UBND thành phố B về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và yêu cầu hủy Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh B trình bày: Phần đất của anh H bị thu hồi là đất vườn, có nhà trên đất bị giải tỏa trắng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh H, thì đất bị thu hồi là đất trồng cây lâu năm. Theo quy định của pháp luật, phần đất của anh H khi Nhà nước thu hồi sẽ được tính bồi thường theo giá đất nông nghiệp đặc biệt. Do đó, việc Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 không chấp nhận đơn khiếu nại của anh H là đúng quy định của pháp luật.
Người đại diện UBND thành phố B trình bày: UBND thành phố B ban hành Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 về việc chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ anh H là đúng quy định.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2015/HC-ST ngày 14-9-2015, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Việt H về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B giải quyết khiếu nại đối với Quyết định số 63/QĐ-UBND ngày 16-4-2013 của Chủ tịch UBND thành phố B và Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 của UBND thành phố B.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25-9-2015, anh Nguyễn Việt H có đơn kháng cáo; ngày 17-6-2016, anh H có đơn kháng cáo bổ sung đối với toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 06/2017/HC-PT ngày 22-02-2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện.
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 20/2015/HC-ST ngày 14-9-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Ngày 17-4-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu có Báo cáo kiến nghị số 01/KN-TA đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 06/2017/HC-PT ngày 22-02-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 12-01-2018, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có Quyết định số 01/2018/KN-HC kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 06/2017/HC-PT ngày 22-02-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thẩm; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 06/2017/HC-PT ngày 22-02-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với việc kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm và hủy Bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ngày 25-8-2014, anh H có Đơn khởi kiện Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu ra Thông báo số 431/TB-THC ngày 10-10-2014 chuyển đơn khởi kiện của anh H (ủy quyền cho bà Trần Ánh T) về Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xem xét giải quyết theo thẩm quyền đối với Quyết định số 63/QĐ-UBND ngày 16-4-2013 của Chủ tịch UBND thành phố B.
Ngày 04-6-2015, anh H khởi kiện lại Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15-01-2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì yêu cầu của anh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và trong thời hiệu khởi kiện.
Tại đơn khởi kiện ngày 04-6-2015 của anh H và Bản tự khai ngày 20-7-2015 của bà Trần Ánh T (đại diện theo ủy quyền của anh H) yêu cầu Tòa án xem xét hủy một phần Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 của UBND thành phố B và hủy Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 13-11-2013 của Chủ tịch UBND tỉnh B.
Quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính hợp pháp và nội dung của Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 của UBND thành phố B; xác định quyết định hành chính bị khởi kiện ban hành có căn cứ, đúng pháp luật nên đã bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 377/QĐ-UBND nêu trên là chưa xem xét toàn diện yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng là không đúng.
Trong vụ án này, Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 19-7-2011 của UBND thành phố B là quyết định hành chính lần đầu và là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND thành phố B tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng mà phải xác định tư cách tham gia tố tụng là Người bị kiện mới chính xác. Mặt khác Tòa án cấp sơ thẩm còn có thiếu sót không nêu cụ thể Quyết định số 377/QĐ-UBND trong phần nhận định và trong phần quyết định không tuyên cụ thể bác yêu cầu khởi kiện đối với từng quyết định hành chính là tuyên không rõ ràng. Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm đối với sai sót này.
Về nội dung khiếu kiện: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử có căn cứ vì Quyết định số 377/QĐ-UBND, Quyết định số 63/QĐ-UBND, Quyết định số 2399/QĐ-UBND có cùng nội dung xem xét, Quyết định số 2399/QĐ-UBND bao trùm cả Quyết định số 63/QĐ-UBND và Quyết định số 377/QĐ-UBND, trong trường hợp cụ thể này Quyết định số 2399/QĐ-UBND đã bác toàn bộ khiếu nại của anh H. UBND thành phố B đã được tham gia tố tụng ngay từ khi thụ lý vụ án nên quyền lợi của UBND thành phố B không bị ảnh hưởng; sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và các bên đương sự cũng không có ai có khiếu nại về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của UBND thành phố B trong vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm là không cần thiết và không đúng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại phiên tòa giám đốc thẩm cho rằng cần phải hủy cả Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết sơ thẩm lại là không có cơ sở chấp nhận; bởi vì việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ; sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cần rút kinh nghiệm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 266, khoản 3 Điều 272 và khoản 2 Điều 274 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
1. Chấp nhận Kháng nghị số 01/2018/KN-HC ngày 12-01-2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 06/2017/HC-PT ngày 22-02-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDTC; - Viện trưởng VKSNDTC (để biết); - TAND cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh (kèm hồ sơ vụ án); - TAND tỉnh Bạc Liêu (để biết); - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: HSVA, Vụ GĐKT 3 (2), VT, Ths. | TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hòa Bình |