vanban.org

Quyết định 04/2017/QĐST-HC — Hành chính

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 26/10/2017 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 04/2013/HCST ngày 07/6/2013, về “Khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất” Giữa:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955 Trú tại: Tổ 16, phường H, Thành phố. T, tỉnh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 04/2013/HCST ngày 07/6/2013, về “Khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất” Giữa:
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:04/2017/QĐST-HCTp.Thái Nguyên, ngày 26 tháng 10 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:1.Ông:Trần Tuấn Hưởng

2. Bà: Hà Thị Dung

Căn cứ vào Điều 143, Điều 144 và Điều 165 của Luật tố tụng hành chính;

XÉT THẤY

Theo các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại quyết định số 570/QĐ-UBND ngày 05/02/2009, của Ủy ban nhân dân thành phố T, về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông (Bà) Nguyễn Thị L (Đoàn Khắc S) cư trú tại: Tổ 16 Phường H, thành phố T để sử dụng vào mục đích xây dựng đường B, đường M(đoạn nối đường B) và khu dân cư số 1, phường H, thành phố T. Thu hồi 453,90m2 đất ODT, tại thửa đất số 43, tờ bản đồ địa chính số 31, của hộ bà Nguyễn Thị L (Đoàn Khắc S) tại phường H để sử dụng vào mục đích xây dựng dự án. (Có phụ lục chi tiết kèm theo)

Sau khi ban hành quyết định thu hồi đất, ngày 06/02/2009 Ủy ban nhân dân phường H đã ban hành thông báo về việc công khai niêm yết quyết định thu hồi đất và gửi các quyết định thu hồi đất đến các hộ gia đình.

Ngày 05 tháng 9 năm 2009 hộ gia đình bà Nguyễn Thị L đã nhận được quyết định thu hồi đất số 570/QĐ-UBND ngày 05/02/2009, của Ủy ban nhân dân thành phố T và ngày 30/3/2009 gia đình bà đã làm đơn đề nghị có nội dung “ ..Tỉnh thu hồi đất làm đường là đúng- chúng tôi hoàn toàn nhất trí ….. chúng tôi làm đơn đề nghị:

1 * được định cư tại chỗ.

2* Xin được cắm một xuất đất tái định cư…”(BL 267).

Ngày 02/02/2010 Bà Nguyễn Thị L đại diện cho chủ hộ gia đình bị thu hồi đất nhận tạm tính chi trả tiền bồi thường GPMB số tiền là là 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) trong khi chờ quyết định phê duyệt phương án bồi thường và cam kết bàn giao mặt bằng cho chủ dự án theo đúng thời hạn.

Quá trình thực hiện quyết định số 570/QĐ-UBND ngày 05/02/2009, của Ủy ban nhân dân thành phố T, Hộ gia đình bà L có ý kiến về việc diện tích thu hồi đất, thống kê tài sản trên đất. Tại biên bản làm việc ngày 23/11/2011 giữa UBND thành phố T, UBND phường H cùng cơ quan chức năng với hộ bà L, Bà L đã có ý kiến: “Thống nhất với diện tích mua lại là 453,9m2, có đề nghị: không nhất trí biên bản thu hồi hết đất bìa đỏ vào tái định cư” BL265).

Quá trình giải quyết các vướng mắc và đề nghị của công dân liên quan đến công tác thu hồi đất, UBND thành phố T phối hợp với chính quyền địa phương đã có nhiều lần làm việc, tiếp xúc, đối thoại với hộ gia đình bà Nguyễn Thị L. Sau khi nghe báo cáo về quá trình thực kiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, các ý kiến đề nghị và thảo luận, bà Nguyễn Thị L có ý kiến: “… Không nhất trí quyết định thu hồi đất vì diện tích đất bị thu hồi không đúng với diện tích gia đình đang quản lý sử dụng, theo bìa đỏ diện tích là 561,9m2 nhưng quyết định thu hồi chỉ có 453,9 m2, thu hồi không đúng không đủ diện tích đất, ngoài ra còn đề nghị giao đất tái định cư, và phải áp dụng giá bồi thường tại thời điểm năm 2012.”

Do không nhất trí với quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án dự toán bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, bà L không đến nhận tiền, không bàn giao đất cho dự án, tổ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đã thông báo, và phát giấy mời nhiều lần nhưng bà L không hợp tác, liên tục có đơn kiến nghị.Tuy nhiên sau khi nhận tạm ứng tiền bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng bà L đã khiếu nại việc Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng xác định không đúng, không đủ diện tích đất bị thu hồi, thiếu đi khoảng 108m2 đất, nên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đã xem xét giải quyết khiếu nại, tổ chức đối thoại, giải thích các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, nhưng bà L không đồng ý.

Ngày 20/02/2013, ngày 09/5/2013 và ngày 15/4/2013 bà Nguyễn Thị L gửi đơn khởi kiện,đơn khởi kiện bổ sung đến Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất số 570/QĐ-UBND, ngày 05/02/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh T, V/v thu hồi đất của hộ ông (Bà) Nguyễn Thị L (Đoàn Khắc S) cư trú tại: Tổ 16 Phường H, thành phố T để sử dụng vào mục đích xây dựng đường B, đường M(đoạn nối đường B) và khu dân cư số 1, phường H, thành phố T.

Bà đề nghị hủy phần diện tích đất ở không sử dụng vào làm đường B tại thửa số 43, tờ bản đồ 31, đồng thời yêu cầu UBND thành phố T có trách nhiệm bồi thường phần diện tích đất đã thu hồi để làm đường theo giá thị trường và những thiệt hại về tài sản.

Tại phiên tòa Người khởi kiện trình bày: Lý do nhận số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) tiền tạm ứng tiền bồi thường thu hồi đất là do biết có quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án.

Theo lời khai tại phiên tòa bà L cũng thừa nhận: “Tôi có nhận được quyết định thu hồi toàn bộ diện tích đất 453,9m2”.

Từ tài liệu nêu trên có căn cứ xác định hộ gia đình bà Nguyễn Thị L đã nhận được, biết được quyết định số 570/QĐ-UBND, ngày 05/02/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh T. Tuy nhiên đến ngày 20/02/2013 mới có đơn khởi kiện quyết định hành chính đối với quyết định trên đến Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, Tòa án tiếp nhận ngày 05/3/2013.

Xét thời hiệu khởi kiện thấy:

Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính quy định:

“ Điều 2: Các vụ án phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 104 của Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12”.

Tại Điều 104 – Luật Tố tụng hành chính 2010 quy định:

“Điều 104. Thời hiệu khởi kiện

1.Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện

2.Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp quy định như sau:

a . 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính

Căn cứ Điều 3 - Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về việc thi hành Luật tố tụng hành chính quy định:

“Điều 3: Trong thời hạn một năm kể từ ngày luật tố tụng hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01/6/2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết, hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của luật tố tụng hành chính.”

Như vậy đối chiếu với quy định pháp luật nêu trên thì tính kể từ khi hộ gia đình bà Nguyễn Thị L nhận được, biết được quyết định hành chính số 570/QĐ-UBND, ngày 05/02/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh T nhưng có đơn khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định thu hồi đất gửi đến Tòa án tiếp nhận ngày 05/3/2013, sau ngày 01/7/2012 là 08 tháng 04 ngày, đã hết thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về việc thi hành Luật tố tụng hành chính ( nay là điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015).

Từ những nhận định trên:

Căn cứ vào Điều 143, Điều 144 và Điều 165 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010; Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

QUYẾT ĐỊNH

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 04/2013/HCST ngày 07/6/2013, về “Khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất” Giữa:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955

Trú tại: Tổ 16, phường H, Thành phố. T, tỉnh T.

Người bị kiện: UBND thành phố T, tỉnh T.

Địa chỉ: Số 10, đường N, phường T, thành phố T, tỉnh T.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang M, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố T, tỉnh T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Khắc S - SN 1940.

Trú tại:Tổ 16, phường H, thành phố T, tỉnh T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện:

Ông Trần Trọng S - Luật sư văn phòng luật sư Hữu Trọng – Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên.

Ông Nguyễn Ngọc T - Luật sư,văn phòng Luật sư Thụy Hoàng - Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

Các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về người khởi kiện, người bị kiện và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ các trường hợp bị đình chỉ theo quy định tại các điểm b, c và e khoản 1 Điều 123 và điểm b và điểm đ, Điều 143 của Luật tố tụng hành chính và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

3. Án phí: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, được trả lại số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009624 ngày 07/6/2013 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

4. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Cỡ chữ