vanban.org

Quyết định 04/2017/QĐDS-ST — Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/12/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Khắc T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990; Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Khắc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án dân sự — "Ông Nguyễn Khắc T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Khắc T.
  • Căn cứ chính? Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN DŨNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC GIANG
______________
Số: 04/2017/QĐDS-ST
Ngày 20 tháng 12 năm 2017
V/v “Tuyên bố một người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ toạ phiên họp: Ông Vũ Tân Thịnh.

- Thư ký phiên họp: Bà Lương Thị Nhẫn - Thư ký TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên họp: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2017/TLST- DS ngày 21 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2017/QĐPH- VDS ngày 05 tháng 12 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

2. Người bị yêu cầu:

Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990;

Sinh quán: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Ông Nguyễn Khắc T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990; Sinh quán: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mất tích.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Khắc T yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990; Sinh quán: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mất tích. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Về yêu cầu của đương sự: Theo đơn yêu cầu của ông Nguyễn Khắc T và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Ông tổ chức kết hôn cho anh Nguyễn Khắc A là con trai ông và chị Nguyễn Thị Q vào ngày 14/9/2010, việc cưới đảm bảo đúng luật hôn nhân và gia đình. Cưới song chị Q và anh A sống chung với gia đình ông. Vợ chồng chung sống được khoảng 5 năm và đã sinh được hai cháu là Nguyễn Thị D, sinh ngày 04/8/2011 và Nguyễn Thị Hương G sinh ngày 20/8/2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 4 năm 2015 thì chị Q bỏ nhà đi từ đó đến nay không có tin tức gì, anh A, ông cùng gia đình chị Q đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng đều không có tin tức gì, đến tháng 3 năm 2017 con trai ông là Nguyễn Khắc A không may bệnh nặng đã qua đời. Bản thân ông M là bố đẻ chị Q xác nhận ông chỉ biết chị Q bỏ đi là do anh A và ông T điện thoại cho biết, khi bỏ đi chị Q không về nhà ông và cho đến nay ông cũng không có thông tin gì về chị Q làm việc ở đâu, còn sống hay đã chết.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị Q và anh A sau khi cưới sống chung với gia đình nhà ông và không tạo lập được tài sản chung gì.

Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích. Ngoài ra ông không có yêu cầu đề nghị nào khác.

Tại biên bản làm việc với Công an xã Đ, huyện Yên Dũng xác định chị Nguyễn Thị Q vắng mặt tại địa phương khoảng hơn hai năm trở lại đây không có thông tin gì về chị Q, hộ khẩu chị Q vẫn do địa phương quản lý, kể từ khi vắng mặt chị Q không chuyển khẩu, xin tạm vắng, do vậy địa phương không biết chị Q đi đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

Tại phiên họp ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng đã quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Q số: 02/TB-TA ngày 21/7/2017. Quyết định này đã được đăng trên báo Công Lý và Đài tiếng nói Việt Nam ba số liên tiếp theo quy định tại các Điều 384, 385, khoản 2 Điều 388 và khoản 1, 2, 3 Điều 392 của Bộ luật tố tụng dân sự, ngày đăng, phát sóng đầu tiên là ngày 26/7/2017, ngày đăng, phát sóng cuối cùng là ngày 02/8/2017 nhưng cho đến nay không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị Q là còn sống hay đã chết. Như vậy sau 02 năm kể từ tháng 4/2015 mà vẫn không có tin tức xác thực chị Nguyễn Thị Q là còn sống hay đã chết, nên có căn cứ xác định chị Nguyễn Thị Q mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của ông T về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích.

Xác định ngày biệt tích của chị Nguyễn Thị Q: Do việc ông T và ông M không nhớ ngày chị Q bỏ đi mà chỉ nhớ chị Q bỏ đi từ tháng 4/2015, do vậy ngày biệt tích của chị Q được xác định là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo là ngày 01 tháng 5 năm 2015.

Về lệ phí: Căn cứ Điều 150 của Bộ luật tố tụng dân sự: Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, ông Thực phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng phát biểu ý kiến về tố tụng, quá trình giải quyết việc dân sự: Tòa án đã chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự về thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng, đúng thời hạn. Hồ sơ đủ điều kiện để Tòa án mở phiên họp và ra quyết định mở phiên họp yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 150, 361, 362, 366, 370, 371, 372, 385, 387, khoản 2 Điều 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Nguyễn Khắc T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990; Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã X, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mất tích.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Khắc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông đã nộp tại biên lai thu số: AA/2010/000942 ngày 21 tháng 7 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (xác nhận ông T đã nộp đủ lệ phí).

Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ