- Tranh chấp gì? "Khởi kiện Công văn số: 4303/UBND-TTr ngày 10/11/2016 của Chủ tịch ủy ban nhân dân thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế về trả lời đơn bà Trần Thị…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/2017/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 01 tháng 12 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Thanh Long
Các Thẩm phán:
Ông Trương Minh Tuấn
Ông Phạm Việt Cường
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 08/2017/QĐST- HC ngày 20 tháng 7 năm 2017,
Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, về việc: “Khởi kiện Công văn số: 4303/UBND-TTr ngày 10/11/2016 của Chủ tịch ủy ban nhân dân thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế về trả lời đơn bà Trần Thị K”, giữa:
1. Người khởi kiện: Bà Trần Thị K
Địa chỉ: Xóm C, thôn T, xã H, thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Địa chỉ: Phường T, thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Thanh N.
Địa chỉ: 22 đường H, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trần Thái H2.
Địa chỉ: 06 đường N, thị trấn G, huyện X, Đồng Nai.
- Ông Trần Thái S.
Địa chỉ: 06 đường N, thị trấn G, huyện X, Đồng Nai.
- Bà Trần Thị Thanh H3.
- Bà Trần Thị Thanh Th.
Địa chỉ: 82 đường H, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trần Thái H4.
Địa chỉ: 14 đường N, thị trấn G, huyện X, Đồng Nai.
Tại đơn kháng cáo ngày 25 tháng 7 năm 2017, người khởi kiện bà Trần Thị K đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 08/2017/QĐST- HC ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế với lý do: Không đồng ý việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án hành chính vì việc khởi kiện Công văn số 4303/UBND-TTr ngày 10/11/2016 của Chủ tịch ủy ban nhân dân thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế về trả lời đơn bà Trần Thị K không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
XÉT THẤY:
Hai thửa đất mà bà Trần Thị K yêu cầu Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Hué cho bà đăng ký, kê khai (thửa A240 có diện tích 388m2 và thửa A241 có diện tích 720m2, theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2010 thì nằm trong thửa NĐ 17, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã H, thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế là do cha mẹ của bà K là ông Trần H và bà Phan Thị K1 nhận chuyển nhượng từ ông Mai Văn H1 vào năm 1961. Năm 1975, ông H cùng các con vào miền Nam sinh sống. Từ năm 1975 cho đến năm 2014, ông Trần T (em ruột ông Trần H) không có lần nào thay mặt ông H đứng ra kê khai đăng ký diện tích hai thửa đất này tại các cấp chính quyền địa phương, do đó hai thửa đất A240 và A241 từ sau 1975 thuộc diện đất vắng chủ nên do Nhà nước quản lý.
Năm 2014, bà Trần Thị K làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu trên gửi UBND xã H và UBND thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế. UBND thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành các công văn trả lời bà K về việc 02 thửa đất A240 và A241 không thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đồng thời UBND xã H, thị xã H1 đã xử phạt hành chính bà K vì xây dựng trái phép trên diện tích đất do ủy ban xã đang quản lý. Không đồng ý việc này, bà K tiếp tục khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền. Ngày 10/11/2016, UBND thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành công văn số: 4303/UBND-TTr, trả lời đơn khiếu nại của bà K với nội dung bà Trần Thị K không phải là người đang sử dụng đất, cha mẹ bà K cũng không sử dụng đất từ năm 1975, theo hồ sơ quản lý đất đai của địa phương 02 thửa đất trên do UBND xã H, thị xã H1 quản lý nên thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K là đúng quy định pháp luật.
Không đồng ý với nội dung Công văn trên, bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế hủy Công văn số 4303/UBND- TTr ngày 10/11/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng khoản 2 Điều 16 Nghị định số 755/2005/NQ- UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 quy định: “Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần đầu đối với các trường hợp khiếu nại liên quan đến UBND cấp tỉnh trong việc thực hiện các qui định của Nghị quyết này. Trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ xây dựng; quyết định của Bộ trưởng là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;... ” để đình chỉ giải quyết vụ án.
Xét thấy, quy định tại khoản 2 Điều 16 Nghị định số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội là quy định về trình tự giải quyết khiếu nại. Theo Điều 33 và Điều 115 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì đương sự có quyền lựa chọn Tòa án hoặc cơ quan hành chính để yêu cầu giải quyết khi có tranh chấp. Trong trường hợp này, bà Trần Thị K lựa chọn Tòa án để khởi kiện Ủy ban nhân dân thị xã H1, tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành Công văn số 4303/UBND-TTr ngày 10/11/2016, nên khiếu kiện của bà K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phải thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà K. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 08/2017/QĐST-HC ngày 20/7/2017 là không đúng.
Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị K.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 08/2017/QĐST- HC ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế để tiếp tục giải quyết.
2. Bà Trần Thị K không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Hoàn trả lại cho bà K số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền số 005312 ngày 4/8/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND, VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế; - Cục THA dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thanh Long |