- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2017/HS-ST Ngày: 20/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Mai Danh Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Khuyến
Ông Hồ Viết Trung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Cán bộ tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2017 tại Hội Trường Thôn Phú Thành, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2017/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Tr (Tên gọi khác: V) - SN: 1987, tại: Thái Bình; Nơi đăng ký HKTT: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1953; Họ tên mẹ: Lê Thị D, sinh năm 1956; HKTT: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con út trong gia đình. Bị cáo có vợ tên Đồng Thị Thu Ng, sinh năm: 1995
Tiền án: 04
Ngày 15/09/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng về tội “trộm cắp tài sản”.
Ngày 21/09/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 20 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đến ngày 09/12/2008 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 17/5/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 32 tháng tù giam về tội “gây rối trật tự công cộng”, đến ngày 20/02/2013 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 20/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm 02 tháng tù giam về tội “chống người thi hành công vụ”, đến ngày 30/10/2015 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: 01
Ngày 16/6/2017, bị Công an huyện Hớn Quản xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đồng Thị Thu Ng, sinh năm 1995
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
2. Dương Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
*Người làm chứng:
1. Bà Lê Thị Mỹ P– (Tên gọi khác: B), sinh năm: 1989
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
2. Ông Mai Trường A, sinh năm: 1995
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước.
3. Ông Trịnh Xuân T, sinh năm: 1968
Địa chỉ: Thôn a, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do nghiện ma túy nên Nguyễn Ngọc Tr thường xuyên xuống thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá của đối tượng tên L (không rõ nhân thân lai lịch) về để sử dụng. Khoảng tối ngày 02/7/2017, L gọi điện thoại cho Tr hỏi Tr có mua ma túy đá không thì Tr đồng ý. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 03/7/2017, Tr điều khiển xe mô tô Yamaha hiệu Exciter, BKS: 93M1-050.70 xuống thành phố Hồ Chí Minh để gặp L mua ma túy, khi đi đến điểm hẹn gần cầu vượt Bình Phước thuộc quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thì Tr gặp L hỏi mua ma túy đá với số tiền 5.500.000 đồng thì L đồng ý và lấy tiền trước. Khoảng 30 phút sau L quay lại và chỉ nơi cất giấu ma túy cho Tr biết là giấu trong bịch màu xanh gần đống rác cạnh cột điện trong hẻm, cách nơi Tr đứng khoảng 300-400m. Tr đi theo sự chỉ dẫn của L thì lấy được bịch ma túy như L chỉ, Tr mở ra xem thì thấy bên trong có 02 bịch ma túy đá có kích thước (4 x 7) cm và 01 bịch nylon bên trong có chứa 02 viên thuốc màu xanh. Sau đó, Tr bỏ hết số ma túy vừa mua được vào trong túi vải và treo ở móc treo đồ ngay cổ xe mô tô của Tr. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Lê Thị Mỹ P, sinh năm: 1989, HKTT: Thôn B, xã B, huyện Bù Gia Mập gọi điện thoại cho Tr hỏi Tr có ma túy đá không bán cho P 300.000 đồng thì Tr đồng ý và nói đang ở thành phố Hồ Chí Minh, khi nào về sẽ gọi cho P. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Tr về đến đoạn cầu Suối Rạt thuộc xã Bù Nho, huyện Phú Riềng thì rẽ vào lô cao su rồi lấy kéo có sẵn và bịch nylon bọc bên ngoài gói thuốc lá rồi hàn thành cái bịch nhỏ và chiết một ít ma túy đá bỏ vào bịch mới làm và hàn kín lại để bán cho P với giá 300.000 đồng. Sau đó, Tr gọi điện thoại cho P thì P hẹn địa điểm gặp ở đoạn cầu Suối Đâm (giáp ranh xã Bù Nho và xã Long Hà). Khi Tr đi đến điểm hẹn thì thấy P đang đứng một mình ở cổng chào vào thôn A, xã L, lúc này Tr đi thẳng vào phía trong cổng chào thôn A khoảng 100m thì P đi theo sau. Khi P và Tr dừng xe lại chuẩn bị giao ma túy và nhận tiền thì bị lực lượng công an bắt quả tang, do hoảng sợ nên Tr dùng tay giựt túi vải đựng ma túy treo ở móc treo đồ ở cổ xe mô tô do Tr điều khiển ném vào lề đường. (BL: 60 – 61)
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, kích thước (4x7)cm; 01 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, kích thước (2x3)cm nghi là ma túy tổng hợp dạng đá; 01 bịch nylon hàn kín 03 mặt, 01 mặt kéo dính, bên trong có chứa chất bột viên màu xanh, nghi là ma túy tổng hợp dạng viên.
- 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu đỏ - đen, BKS: 93M1-050.70.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng - vàng - đồng đã qua sử dụng.
- Số tiền 300.000 đồng; 01 bóp vải dạng vải thổ cẩm, màu đen - đỏ - xanh - hồng, đã bị mất khóa kéo; 02 hộp quẹt gas bằng kim loại, trong đó 01 quẹt gas màu vàng đồng, dạng hình hộp chữ nhật và 01 quẹt gas màu trắng bạc hình trụ tròn, có góc vuông ở thân quẹt (thu ở vị trí nằm gần chiếc bóp vải dạng vải thổ cẩm); 01 khóa kéo bằng kim loại gắn với móc sắt bằng kim loại hình tròn, thu tại móc treo tại gác baga giữa xe, cách ổ khóa điện của xe mô tô BKS: 93M1 - 050.70 khoảng 05cm.
Tại kết luận giám định số: 136/MT-2017 ngày 10/7/2017 của Phòng KTHS Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:
Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong 02 bịch nylon có kích thước (4x7)cm hàn kín (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; là loại Methamphetamine; trọng lượng mẫu 8,6214 gam; hàm lượng 78,954%.
Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong 01 bịch nylon có kích thước (2x3)cm hàn kín (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy; là loại Methamphetamine; trọng lượng mẫu 0,4864 gam; hàm lượng 45,600%.
Chất bột, viên màu xanh trong 01 bịch nylon hàn kín ba mặt (ký hiệu M3) gửi đến giám định là chất ma túy; là loại N-Methyl-3,4-Methylenedioxyamphetamine (gọi tắt MDMA); trọng lượng mẫu 0,5516 gam. Mẫu ký hiệu M3, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh không tiến hành giám định hàm lượng vì không có mẫu chuẩn. (BL: 85)
Tại Bản cáo trạng số: 62/CT - VKS - HS ngày 19/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Tr về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS;
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Ngọc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46; các Điều 33; 45 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Tr từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra đại diện VKS nhân dân huyện Phú Riềng còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử thảo luận và nghị án.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do bị cáo là người nghiện ma túy nên thường xuyên xuống thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá của đối tượng tên L (không rõ nhân thân lai lịch) về để sử dụng. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 03/7/2017, bị cáo điều khiển xe mô tô Yamaha hiệu Exciter, BKS: 93M1 - 050.70 xuống thành phố Hồ Chí Minh để gặp L mua ma túy, khi đi đến điểm hẹn gần cầu vượt Bình Phước thuộc quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo gặp L hỏi mua ma túy đá với số tiền 5.500.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong bị cáo mang ma túy về Bình Phước, đến khoảng 21 giờ cùng ngày bị cáo đang bán ma túy cho Lê Thị Mỹ Ptại thôn 5A, xã Long Hà thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng tang vật.
Xét lời khai của bị cáo là phù hợp về thời gian, địa điểm, P thức phạm tội của bị cáo. Đồng thời, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra và các chứng khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi mua bán ma túy của bị cáo Nguyễn Ngọc Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 194 của bộ luật hình sự
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người, là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự tại địa P. Bị cáo nhận thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật xử lý và nghiêm trị. Nhưng do muốn có tiền tiêu sài bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện thái độ liều lĩnh, xem thường pháp luật của bị cáo rất cao.
Ngoài hành vi lần này ra thì vào ngày 15/09/2004 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 tháng về tội “trộm cắp tài sản”.
Ngày 21/09/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 20 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đến ngày 09/12/2008 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 17/5/2011 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 32 tháng tù giam về tội “gây rối trật tự công cộng”, đến ngày 20/02/2013 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Ngày 20/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm 02 tháng tù giam về tội “chống người thi hành công vụ”, đến ngày 30/10/2015 thì chấp hành xong hình phạt tù trở về địa P sinh sống nhưng bị cáo không biết lấy đó làm bài học để cải tạo mình thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục thực hiện tội phạm nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là “tái phạm nguy hiểm” theo khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự. Nên Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Riềng truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có cơ sở , phù hợp với pháp luật.
Xét tính chất hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa P, là nguyên nhân gây ra các bệnh tật và tệ nạn xã hội. Do vậy, cần phải xử bị cáo mức án thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự nên cần xem xét khi lượng hình.
Đối với Lê Thị Mỹ Plà người mua ma túy của Tr để sử dụng, do P chưa kịp giao tiền và nhận ma túy thì bị bắt quả tang nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng không đề cập xử lý.
Đối với đối tượng tên L ở Thành phố Hồ Chí Minh là người bán ma túy cho Tr, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng tách ra để xác minh làm rõ xử lý sau.
Veà vật chứng vụ án:
Cần áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự và điều 41 Bộ luật hình sự để xử lý:
Đối với 8,8456 gam ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bóp vải dạng thổ cẩm, màu đen - đỏ - xanh - hồng, đã mất khóa kéo; 02 hộp quẹt gas bằng kim loại và 01 khóa kéo bằng kim loại gắn với móc sắt bằng kim loại hình tròn (không còn giá trị sử dụng) nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng – vàng - đồng và số tiền 300.000 đồng, đây là P tiện bị cáo dùng dùng để liên lạc với L và P trong quá trình mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô Yamaha hiệu Exciter, màu đỏ - đen, BKS: 93M1 - 050.70 mà Tr sử dụng làm P tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe của Đồng Thị Thu Ng (vợ của Tr) mua lại của ông Dương Văn T, SN: 1983, HKTT: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước trước khi kết hôn với Tr, đây là tài sản riêng của Ng. Ng không biết việc Tr sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại chiếc xe này cho Ng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và vật chứng vụ án là có căn cứ neân ñöôïc Hoäi ñoàng xeùt xöû chaáp nhaän.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 các Điều 33, 45 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Tr 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 03/7/2017.
2. Về vật chứng; Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7, màu trắng – vàng - đồng và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy 8,8456 gam ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bóp vải dạng thổ cẩm, màu đen - đỏ - xanh - hồng, đã mất khóa kéo; 02 hộp quẹt gas bằng kim loại và 01 khóa kéo bằng kim loại gắn với móc sắt bằng kim loại hình tròn.
Trả lại cho Đồng Thị Thu Ng 01 xe mô tô Yamaha hiệu Exciter, màu đỏ - đen, BKS: 93M1 - 050.70 xe có giấy chứng nhận đăng ký xe đứng tên chủ sở hữu Dương Văn T.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc Tr phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng);
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Phú Riềng; - Chi cục THADS huyện Phú Riềng; - CA huyện huyện Phú Riềng; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) MAI DANH HÒA |