vanban.org

Quyết định 03 — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Phúc thẩm Bản án 75/2020/DSPT Tuyên án 23/09/2020
Phúc thẩm — đang xem Bản án 03 Tuyên án 30/12/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Toµ ¸n nh©n d©n
tØnh phó thä

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Sè: 03/2021/Q§-PT
QuyÕt ®Þnh

Gi¶i quyÕt viÖc kh¸ng CÁO ®èi víi

quyÕt ®Þnh ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n

Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó thä

Với Héi ®ång phóc thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn häp: Ông Nguyễn Hà Giang;

C¸c ThÈm ph¸n:

¤ng Hồ Văn Việt;

Ông Nguyễn Trường Sơn.

T¹i quyÕt ®Þnh ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 18/2021/Q§ST - DS ngµy 26 tháng 7 năm 2021.

Toµ ¸n nh©n d©n huyện Đ ®· c¨n cø vào Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 63/2021/TLST-DS ngày 29/3/2021 về việc “ Yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng” giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1953;

Địa chỉ: Khu Phương Nhuế, xã Phú Lâm, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Ông Hà Văn N, sinh năm 1968;

và bà Phạm Thị C, sinh năm 1963;

Địa chỉ: Khu Trung Tâm, xã Phú Lâm, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Tại đơn kháng cáo ngày 29/7/2021, bà Nguyễn Thị L là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ hủy quyết định ®×nh chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 18/2021/Q§ST - DS ngµy 26 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ và giải quyết đơn khởi kiện của bà theo quy định của pháp luật.

XÐt thÊy:

Ngày 20/02/2020 bà Nguyễn Thị L khởi kiện với nội dung: Năm 2004, bà có mua của vợ chồng ông N, bà C 01 mảnh đất (bà không rõ diện tích, chỉ xác định chiều dài mặt đường quốc lộ là 17m, mặt đằng sau là 22m, chiều sâu khoảng 100m, trị giá 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), bà Liên đã thanh toán xong số tiền trên cho vợ chồng ông N, bà C (Gồm trả tiền mặt và tiền hàng). Sau đó ông N, bà C không thực hiện việc bán đất và cũng không trả lại tiền cho bà. Vì vậy, bà Liên khởi kiện, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán đất giữa bà và vợ chồng ông N, bà C vô hiệu, buộc vợ chồng ông N, bà C trả lại tiền cho bà. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DSST ngày 26/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đã xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liên về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng. Ngày 05/7/2020 Bà Liên kháng cáo Toàn bộ bản án với lý do không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm số 05/2020/DSST ngày 26/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 75/2020/DSPT ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2020/DSST ngày 26/6/2020 của TAND huyện Đ, giao hồ sơ về cho TAND huyện Đ xét xử sơ thẩm. Sau khi thụ lý lại vụ án để giải quyết Tòa án nhân dân huyện Đ xét thấy vụ án thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện do sự việc đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nên đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì thấy: Ngày 24/12/2011, giữa bà Liên và ông Nguyễn Hồng Cường có lập biên bản thỏa thuận với nội dung trước khi ông Cường lấy bà Liên, ông Cường có một số tài sản riêng nay ông Cường dùng để mua một thửa đất (đất ở, đất vườn) của ông Hà Văn N nên ông Cường được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Biên bản nêu trên đã được chứng thực và bà Liên cũng thừa nhận chữ ký trong biên bản là chữ ký của bà Liên. Sau đó ông Cường đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSD đất.

Năm 2017, bà Nguyễn Thị L đã có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy GCNQSD đất cấp cho ông Nguyễn Hồng Cường. Tại bản án hành chính sơ thẩm số 12/2017/HC- ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và bản án hành chính phúc thẩm số 207/2018/HC – PT ngày 01/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM-255395 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Hồng Cường ngày 18/12/2012. Bản án phúc thẩm số 207/2018/HC – PT ngày 01/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhận định: “ Năm 2004, ông Hà Văn N, bà Phạm Thị C có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hồng Cường và bà Nguyễn Thị L 416,5m2 đất. Hai bên có viết giấy biên nhận, ông Hà Văn N và bà Nguyễn Thị L ký giấy biên nhận, không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Theo yêu cầu của bà Liên, ông Cường, năm 2011 ông N và bà C đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho 03 người là chị Phạm Thị Vân Anh, anh Nguyễn Mạnh Phú, ông Nguyễn Hồng Cường.

Ngày 18/12/2012, Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM-255395, diện tích 168m2 thuộc thửa số 92, tờ bản đồ số 08 cho ông Nguyễn Hồng Cường. Xét trình tự, thủ tục và thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hồng Cường thấy:

Ngày 19/10/2011, ông Hà Văn N và bà Phạm Thị C đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 92, tờ bản đồ số 08 diện tích 168m2 ven đường Chiến Thắng Sông Lô, thuộc thôn 4, xã Phương Trung, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ cho ông Nguyễn Hồng Cường. Hợp đồng có xác nhận của Ủy | ban nhân dân xã Phương Trung, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cùng ngày, ông Nguyễn Hồng Cường có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có xác nhận của cán bộ địa chính và Ủy ban nhân dân xã Phương Trung, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kiểm tra, thẩm định hồ sơ, hiện trạng sử dụng đất kết hợp với Biên bản thỏa thuận ngày 24/12/2011 giữa ông Nguyễn Hồng Cường và bà Nguyễn Thị L có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Phương Trung, huyện Đ thì ngày 18/12/2012 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hồng Cường là đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền”. Bản án hành chính phúc thẩm số 207/2018/HC – PT ngày 01/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật, bà Liên không khiếu nại đối với bản án trên. Mặc dù trong vụ án hành chính bà Liên chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Hồng Cường, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chị Phạm Thị Vân Anh, anh Nguyễn Mạnh Phú bà Liên không khởi kiện.

Như vậy, bản án hành chính chỉ xem xét trình tự, thủ tục và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM-255395, diện tích 168m2 , thửa đất số 92, tờ bản đồ số 08, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Hồng Cường, ngày 18/12/2012. Bản án hành chính không xem xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Liên với ông N, bà C. Việc Tòa án nhân dân huyện Đ cho rằng sự việc đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực của pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là không chính xác. Nội dung khởi kiện của bà Liên cần được giải quyết bằng vụ án dân sự mới triệt để.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hô ̣i đồng phúc thẩm Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 BLTTDS để Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 18/2021/QĐST-DS ngày 26/7/2021 của TAND huyện Đ và chuyển hồ sơ vụ án về TAND huyện Đ tiếp tục giải quyết.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn cứ nên được chấp nhận.

C¨n cø điểm c khoản 5, khoản 6 Điều 314 của Bé luËt tè tông d©n sù;

quyÕt ®Þnh

1. Hủy Quyết ®Þnh đình chØ gi¶i quyÕt vô ¸n dân sự sè: 18/2021/Q§ST - DS ngµy 26 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.

3. Về án phÝ: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí phúc thẩm.

4. QuyÕt ®Þnh phóc thÈm cã hiÖu lùc pháp luật kÓ tõ ngµy ra quyÕt ®Þnh./.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ