vanban.org

Quyết định 03/QĐ-TA

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 06/04/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần khiếu nại của anh Nguyễn Phạm Hoài P, sửa Quyết định số: 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, cụ thể:

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: NGUYỄN PHẠM HOÀI P, Sinh năm: 1989, tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị T. Tại Cơ sở cai n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Phạm Hoài P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần khiếu nại của anh Nguyễn Phạm Hoài P, sửa Quyết định số: 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 35 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 36 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/QĐ-TABến Tre, ngày 09 tháng 4 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Văn Tỉnh

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang

Ngày 09 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại của anh Phạm Nguyễn Hoài P đối với Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Nguyễn Phạm Hoài P (Đ); Giới tính: Nam;

Sinh năm: 1989; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nguyên quán: tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Có hai tiền sự;

- Tại quyết định số 15/QĐ-XPHC ngày 28/6/2017 của Công an xã H đã xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Chưa đóng phạt)

- Tại quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 21/11/2017 của UBND xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời gian 03 tháng kể từ ngày 21/11/2017.

Con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị T

Anh Nguyễn Phạm Hoài P có mặt tại phiên họp.

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của anh P: Bà Đàm Thụy Thùy G – Luật sư Văn phòng luật sư BT thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Tấn Tín – Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Châu Thành – có mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Ông Đặng Văn Hùng - Kiểm sát viên – có mặt.

- Chuyên gia y tế: Ông Huỳnh Công T – Bác sĩ, Trưởng Trạm y tế xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

- Ông Phạm Văn B – Trưởng công an xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 06/3/2017, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Châu Thành có văn bản số 73/LĐ-TBXH đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phạm Hoài P do có hành vi sử dụng chất ma túy, cụ thể như sau: Nguyễn Phạm Hoài P đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 21/11/2017 của UBND xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Vào ngày 01/02/2018, Công an xã H lập biên bản vi phạm hành chính do P tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trạm y tế xã H đã tiến hành test ma túy đối với P và kết quả là dương tính (có sử dụng) với ma túy (Methaphetamine). Qua làm việc, P thừa nhận đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và mặc dù đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không từ bỏ được ma túy nên đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã Quyết định:

- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Phạm Hoài P; Sinh năm: 1989 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

- Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Ngoài ra, Quyết định còn tuyên về hiệu lực thi hành; quyền khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị theo luật định.

Ngày 28/3/2018, anh Nguyễn Phạm Hoài P nộp đơn khiếu nại yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xem xét hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với lý do: anh P cho rằng những tài liệu có trong hồ sơ là không khách quan, anh chưa gặp bác sĩ T lần nào để test ma túy cũng như không có làm việc với công an B như các biên bản thể hiện; anh cũng không được đọc hồ sơ theo quy định.

Tại phiên họp xét khiếu nại, anh Nguyễn Phạm Hoài P không thay đổi yêu cầu khiếu nại, bổ sung yêu cầu nếu không hủy quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 thì xem xét giảm thời gian cai nghiện bắt buộc.

Ông Phạm Văn B trình bày: tất cả các giấy tờ khi làm việc đều có mời anh P đến để giải quyết và anh P ký nhận đúng thủ tục.

Bác sĩ Huỳnh Công T trình bày: có tham gia kiểm tra, đọc và xác nhận việc test nước tiểu đối với anh P vào biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 01/02/2018 đúng theo kết quả xét nghiệm.

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Châu Thành phát biểu ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre không chấp nhận khiếu nại của anh Nguyễn Phạm Hoài P, giữ nguyên Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Người bảo vệ quyền lợi cho anh P cho rằng việc lập hồ sơ chưa khách quan, bác sĩ T không có test nước tiểu của anh P do anh P không gặp bác sĩ T, việc đọc hồ sơ thì anh P không có gặp anh B, anh P không sử dụng chất ma túy, đương sự chấp hành tốt việc giáo dục tại xã, các giấy tờ giữa người giao và người nhận không thống nhất. Đề nghị hủy quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 để anh P tiếp tục thực hiện việc giáo dục tại xã vì quyết định giáo dục tại xã chưa chấp hành xong.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến cho rằng việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Thư ký phiên họp đúng quy định của pháp luật, người khiếu nại và đại diện cơ quan đề nghị đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật, về thủ tục hồ sơ đầy đủ đúng thủ tục luật định, khiếu nại của anh Nguyễn Phạm Hoài P là không có cơ sở. Xét yêu cầu giảm thời hạn áp dụng cai nghiện bắt buộc của anh P, do anh P không có tình tiết tăng nặng nên cần áp dụng mức thấp nhất đối với anh P. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, chấp nhận một phần khiếu nại của anh Nguyễn Phạm Hoài P, sửa quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Nguyễn Phạm Hoài P, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người khiếu nại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và người tham gia phiên họp khác.

X T THẤY:

Tại phiên họp, các tình tiết mà anh P đưa ra để khiếu nại cho rằng hồ sơ không khách quan, thấy rằng tại phiên hợp xét khiếu nại anh P thừa nhận chữ ký của anh tại các văn bản như: Biên bản xét nghiệm chất ma túy (BL 55); Bản tự khai của anh P (BL 56); Biên bản vi phạm hành chính (BL 63); Biên bản giao nhận Thông báo về việc lập hồ sơ đưa vào Cơ sở cai nghiệm bắt buộc (BL 74); Biên bản cho đọc tài liệu, ghi chép sao chụp hồ sơ (BL 81) là chữ ký của anh. Và anh P cho rằng anh bị ép ký và đọc nội dung để cho viết nhưng anh không có khiếu nại về việc này, nên các văn bản này có giá trị chứng minh về việc sử dụng chất ma túy của anh P vào ngày 29/01/2018, cũng như Cơ quan y tế và Công an xã H khi tham gia lập các văn bản làm việc đều có mặt của anh P. Như vậy, các văn bản mà cơ quan chức năng lập hồ sơ để đề nghị cai nghiện bắt buộc đối với anh P là có cơ sở.

Qua lời trình bày của người khiếu nại, kết hợp các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ, có cơ sở xác định: Nguyễn Phạm Hoài P đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 21/11/2017 của UBND xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Vào ngày 01/02/2018, Công an xã H lập biên bản vi phạm hành chính do P tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Trạm y tế xã H đã tiến hành test ma túy đối với P và kết quả là dương tính (có sử dụng) với ma túy (Methaphetamine). Qua làm việc, P thừa nhận đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và mặc dù đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không từ bỏ được ma túy nên đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Với ý thức, việc sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả xét nghiệm chất ma túy, nhân thân và trình tự, thủ tục lập hồ sơ, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Phạm Hoài P. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã mở phiên họp và quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Phạm Hoài P là có cơ sở.

Xét yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của anh Nguyễn Phạm Hoài P, thấy rằng Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã xem xét và áp dụng các tình tiết về nhân thân của anh P là đã bị chính quyền địa P xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và cũng đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã chưa hết thời gian giáo dục tại xã anh P lại tiếp tục sử dụng ma túy thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh P và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh P cho rằng hồ sơ được lập đối với anh P là không khách quan, P không có gặp bác sĩ T để tiến hành test ma túy cũng như không có làm việc với công an B, P cũng không được đọc hồ sơ. Xét thấy lý do mà anh P và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh P đưa ra là không có căn cứ. Những tài liệu hồ sơ đều thể hiện có đầy đủ chữ ký của anh P, tại biên bản vi phạm hành chính lập đối với anh P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bản tự khai của anh P ngày 29/01/2018 anh P thừa nhận có sử dụng ma túy đá. Anh P là người đã trên 18 tuổi, là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Việc anh cho rằng các công an viên không cho anh đọc hồ sơ mà chỉ bắt ký tên vào các giấy tờ mà không biết nội dung là gì, không có test ma túy nhưng lại đồng ý ký tên thừa nhận kết quả và không có khiếu nại gì. Như vậy, về thủ tục lập hồ sơ của Trạm y tế và Công an xã H thực hiện đúng quy định, không có cơ sở hủy Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Người bảo vệ quyền lợi cho anh P đề nghị hủy Quyết định số số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 đối với anh P để anh P tiếp tục chấp hành biện pháp giáo dục tại xã vì anh P chưa chấp hành xong. Thấy rằng, do anh P tiếp tục sử dụng chất ma túy khi chưa hết thời gian giáo dục tại xã là 03 tháng nên Ủy ban nhân dân xã H ban hành quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 01/02/2018 chấp dứt áp dụng biện pháp cai nghiện tại xã, phường, thị trấn đối với anh P để lập hồ sơ đề nghị cai nghiện bắt buộc đối với anh P, nên đề nghị của người bảo vệ quyền lợi cho anh P không được chấp nhận.

Tại phiên họp xét khiếu nại anh P yêu cầu giảm thời hạn cai nghiện bắt buộc, thấy rằng về nhân thân anh P có hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đây là điều kiện để áp dụng việc cai nghiện bắt buộc. Ngoài ra anh P không có tiền án, tiền sự gì khác, không có tình tiết tăng nặng, nên cần giảm một phần thời giam cai nghiện bắt buộc, cũng như đề nghị của Kiểm sát là thỏa đáng. Chấp nhận một phần khiếu nại của anh P sửa Quyết định số số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 35; Điều 36 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận một phần khiếu nại của anh Nguyễn Phạm Hoài P, sửa Quyết định số: 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, cụ thể:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: NGUYỄN PHẠM HOÀI P, Sinh năm: 1989, tại tỉnh Bến Tre;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị T. Tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre (ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.

4. Các phần quyết định khác của Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 26/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành không bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay.

Cỡ chữ