vanban.org

Quyết định 03/QĐ-TA

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 01/03/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Bùi Thị Kiều D. Sinh ngày 16 tháng 11 năm 2001. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 15 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/QĐ-TAIa Grai, ngày 01 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Văn Đính

2. Thư ký phiên họp: Ông Vương Tấn Lập

Ngày 29 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-TA ngày 19 tháng 02 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Bùi Thị Kiều D.

Sinh ngày 16 tháng 11 năm 2001.

CMND số: 261567449, ngày cấp: 16/6/2017, nơi cấp: Công an tỉnh Bình Thuận;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ văn hoá: 9/12;

Nguyên quán: Thái Bình;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Cơ sở tư vấn và cai nghiện tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Con ông Bùi Văn L và bà Hoàng Thị L1

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Văn Tuất - Chuyên viên của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai (Theo văn bản ủy quyền số 03/GUQ-LĐTBXH ngày 19/02/2019).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Bùi Thị Kiều D bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 06 năm 2017. Đến ngày 08/01/2019, Bùi Thị Kiều D bị Công an xã A, huyện G lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại biên bản xét nghiệm và phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã A, huyện G đã xác định Bùi Thị Kiều D dương tính với chất ma túy THC và là người nghiện ma túy. Qua xác minh, Bùi Thị Kiều D không có nơi cư trú ổn định. Ngày 28/02/2019, ông Bùi Văn L là cha của Bùi Thị Kiều D cung cấp bản sao giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng minh nhân dân thể hiện Bùi Thị Kiều D sinh ngày 16/11/2001 chứ không phải sinh ngày 29/10/2000 như lời khai của D và kết quả xác minh trước đó. Lời khai của D vào ngày 28/02/2019 cũng thể hiện, D khai khi bị bắt là mình sinh ngày 29/10/2000 do bản thân D không nhớ rõ ngày sinh của mình chứ không bị đánh đập, ép buộc gì. Như vậy, đến thời điểm ngày 08/01/2019, D mới 17 tuổi 01 tháng 23 ngày, chưa đủ 18 tuổi nên không thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G rút đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Bùi Thị Kiều D với lý do có tình tiết mới do ông Bùi Văn L là cha của Bùi Thị Kiều D cung cấp bản sao giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng minh nhân dân thể hiện Bùi Thị Kiều D sinh ngày 16/11/2001 chứ không phải sinh ngày 29/10/2000 như lời khai của D và kết quả xác minh trước đó, có đủ căn cứ để xác định đến thời điểm ngày 08/01/2019, D mới 17 tuổi 01 tháng 23 ngày, chưa đủ 18 tuổi nên không thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện G chấp nhận việc đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G rút đề nghị của áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Bùi Thị Kiều D và đề nghị Tòa án đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

XÉT THẤY:

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G rút đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Bùi Thị Kiều D với lý do có tình tiết mới do ông Bùi Văn L là cha của Bùi Thị Kiều D cung cấp bản sao giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng minh nhân dân thể hiện Bùi Thị Kiều D sinh ngày 16/11/2001 chứ không phải sinh ngày 29/10/2000 như lời khai của D và kết quả xác minh trước đó, có đủ căn cứ để xác định đến thời điểm ngày 08/01/2019, D mới 17 tuổi 01 tháng 23 ngày, chưa đủ 18 tuổi nên không thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Căn cứ vào các Điều 96, Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, điểm b khoản 3 Điều 12 và khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Bùi Thị Kiều D.

Sinh ngày 16 tháng 11 năm 2001.

CMND số: 261567449, ngày cấp: 16/6/2017, nơi cấp: Công an tỉnh Bình Thuận;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ văn hoá: 9/12;

Nguyên quán: Thái Bình;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Cơ sở tư vấn và cai nghiện tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Con ông Bùi Văn L và bà Hoàng Thị L1.

2. Lý do đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện các pháp xử lý hành chính đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G rút đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Bùi Thị Kiều D với lý do có tình tiết mới do ông Bùi Văn L là cha của Bùi Thị Kiều D cung cấp bản sao giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình và giấy chứng minh nhân dân thể hiện Bùi Thị Kiều D sinh ngày 16/11/2001 chứ không phải sinh ngày 29/10/2000 như lời khai của D và kết quả xác minh trước đó, có đủ căn cứ để xác định đến thời điểm ngày 08/01/2019, D mới 17 tuổi 01 tháng 23 ngày, chưa đủ 18 tuổi nên không thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Cỡ chữ