vanban.org

Quyết định 03/QĐ-TA

TAND huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang Tuyên án 07/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ; sinh năm 1976.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày 24/3/2023. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang. Quyền kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Dương V Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ; sinh năm 1976.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC MÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HÀ GIANG
Số: 03/QĐ - TA
Bắc Mê, ngày 07 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Dương Văn Công.

2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Đạt.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-TA ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Dương Văn Đ; giới tính: Nam; sinh năm 1976; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12.

Nguyên quán: xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; tiền án, tiền sự: không.

Con ông: Dương Văn V, sinh năm 1954 (đã chết) và con bà Dương Thị N, sinh năm 1954 (đã chết); (Vắng mặt có lý do).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Hoài Linh; chức vụ: Phó Trưởng Phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê: Bà Nguyễn Thị Phương

- Kiểm sát viên.

3. Đại diện UBND xã Y, huyện B: Ông Hoàng Văn Tiến; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã Y.

NHẬN THẤY

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy: Ngày 23/3/2023 Công an xã Y lập biên bản Vi phạm hành chính đối tượng Dương Văn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/3/2023, đồng thời Dương Văn Đ viết bản tường trình và biên bản ghi lời khai đã thừa nhận mua ma túy của một người lạ mặt ở huyện B, tỉnh Cao Bằng không biết tên, tuổi, địa chỉ, loại ma túy Heroine với số tiền 100.000 đồng xong đã sử dụng hết tại lều nương ven đường QL 34 thuộc Thôn N, xã Y, hình thức chích, sử dụng 03 lần/tuần. Thời gian sử dụng ma túy từ tháng 11/2021.

Ngày 22/3/2023 Công an xã Y phối hợp với Trạm y tế xã Y lấy mẫu nước tiểu, phiếu xét nghiệm chất ma túy Dương Văn Đ dương tính chất ma túy.

Ngày 23/3/2023 Phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã Y, huyện B xác định tình trạng nghiện Dương Văn Đ có nghiện ma túy loại ma túy Heroine.

Ngày 24/3/2023 Công an xã Y, huyện B giao Dương Văn Đ cho Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang để quản lý trong thời gian lập hồ sơ theo quyết định số 16/QĐ-QLNN ngày 24/3/2023 của Chủ tịch UBND xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Ngày 27/3/2023 Công an xã Y thông báo số 04/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ.

Tại văn bản số 01/ĐN-CNBB ngày 29/3/2023 của Chủ tịch UBND xã Y, huyện B đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ.

Ngày 29/3/2023 trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Hà Giang ban hành văn bản số 51/LĐTBXH đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối tượng Dương Văn Đ.

Ngày 04/4/2023 Dương Văn Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động thương binh và Xã hội B, phát biểu ý kiến đề nghị đưa Dương Văn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

Đại diện UBND xã Y nơi lập hồ sơ ý kiến: Đối với Dương Văn Đ sử dụng ma túy trên địa bàn từ năm 2021, thường xuyên vắng mặt tại địa phương không có lý do gây bức xúc trong dư luận và lấy tài sản của gia đình mang đi bán lấy tiền mua ma túy, nên Công an xã đã phối hợp cơ quan chức năng kiểm tra xét nghiệm đối tượng nghiện ma túy. Nay đề nghị đưa Dương Văn Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng mới đủ thời gian cai nghiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân B tham gia phiên họp phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan lập hồ sơ và cơ quan đề nghị trong quá trình lập hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định.

Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng quy định. Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Luật, phòng chống ma túy; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện B, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ, thời hạn từ 16 tháng đến 19 tháng.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, ý kiến của cơ quan đề nghị, UBND xã Y nơi lập hồ sơ và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê có đủ căn cứ để xác định.

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104, 107 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 32 Luật, phòng chống ma túy năm 2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ Dương Văn Đ tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai đã thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2021 bằng hình thức chích, lần gần nhất ngày 18/3/2023. Dương Văn Đ là người nghiện ma túy không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy… đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Dương Văn Đ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Về tình tiết tăng nặng Dương Văn Đ không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình lập hồ sơ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình nên cần áp dụng khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 để xem xét giảm nhẹ khi áp dụng.

. Xét về nhân thân Dương Văn Đ: Không có tiền án, tiền sự, bản thân nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy có hại cho sức khỏe con người nhưng vẫn cố tình sử dụng chất ma túy, là người nghiện ma túy không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện mà sử dụng trái phép chất ma túy gần nhất ngày 18/3/2023. Vì vậy, việc áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ là cần thiết, để giúp người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính được chữa bệnh, lao động, học nghề và sinh hoạt dưới sự quản lý giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

. Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị và Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 Điều 103, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 110, 119, 131 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Luật, phòng chống ma túy năm 2021; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Dương Văn Đ; sinh năm 1976.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày 24/3/2023. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là: Cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng người tâm thần - Cai nghiện ma túy tỉnh Hà Giang; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hà Giang.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định:

- Dương Văn Đ vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án,

- Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện B có quyền kiến nghị quyết định thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị quyết định thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ