- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim N về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2025/QĐVDS-ST | Phúc Thọ, ngày 20 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Thanh Hải
Thư ký phiên họp: Ông Lương Hữu Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, tham gia phiên họp: - Bà Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2025/TLST-VDS ngày 10 tháng 02 năm 2025, về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2025/QĐST-VDS ngày 20 tháng 02 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1998; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người bị yêu cầu: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1954; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đều cùng địa chỉ: Số 31, ngõ 1, xóm H, thôn MG, xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ VIỆC:
Theo đơn yêu cầu và bản tự khai người yêu cầu là chị Nguyễn Thị Kim N trình bày: Bố mẹ ruột của chị Nguyễn Thị C là ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị N (Hiện bà N đã chết). Ông Nguyễn Văn M trước đây từng tham gia kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường M Nam, hiện đang là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4. Sau khi tham gia kháng chiến, ông M về quê hương kết hôn với bà Nguyễn Thị N, người con chung đầu tiên là bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1978. Trong những người con chung của ông M và bà N, có chị C bị câm, điếc bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ từ nhỏ, không đi học và bị tàn tật. Chị C đã thực hiện kiểm tra sức khỏe tâm thần theo quy định của Nhà nước và có kết luận bị nhiễm chất độc hóa học, được hưởng các chế độ trợ cấp xã hội của Nhà nước theo Quyết định số 202/QĐ-LĐTBXH ngày 17 tháng 4 năm 2001 về việc trợ cấp đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học của Giám đốc Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Bên cạnh đó, thời gian vừa qua chị C vẫn luôn tham gia điều trị ngoại trú và nhận cấp thuốc an thần định kỳ hàng tháng tại Trung tâm y tế huyện Phúc Thọ - Phòng khám đa khoa Ngọc Tảo. Khoảng hơn chục năm trở lại đây, biểu hiện bệnh của chị C ngày càng trở nặng, thường xuyên chửi bới lung tung, đập phá đồ đạc, xé quần áo, v.v... Từ khi sinh ra đến nay chị C không có khả năng lao động, chưa từng đăng ký kết hôn với ai, mọi sinh hoạt hiện tại đều do người nhà chăm sóc. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Kim N đề nghị Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định chị là người giám hộ của chị C.
Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số 11/KLGĐYC ngày 24/01/2025 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương, Bộ Y tế đã kết luận: “Tại thời điểm giám định, đối tượng Nguyễn Thị C bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Tại phiên họp, chị Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn M có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên họp và giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền; Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng và các thời hạn bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 19, Điều 22 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27, 149, 370, 371, 372, 376, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất năng lực hành vi dân sự và chỉ định người giám hộ.
PAGE \* MERGEFORMAT 5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim N có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị gái là chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 bị mất năng lực hành vi dân sự. Chị Nguyễn Thị C cư trú tại xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim N là đúng quy định tại Điều 27, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 trú tại thôn MG, xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội. Từ khi sinh ra chị C đã không giống những đứa trẻ bình thường khác, chị C bị câm, điếc bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ từ nhỏ, không đi học và bị tàn tật. Chị C đã thực hiện kiểm tra sức khỏe tâm thần theo quy định của Nhà nước và có kết luận bị nhiễm chất độc hóa học, được hưởng các chế độ trợ cấp xã hội của Nhà nước theo Quyết định số 202/QĐ-LĐTBXH ngày 17 tháng 4 năm 2001 về việc trợ cấp đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học của Giám đốc Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Từ khi sinh ra đến nay chị C không có khả năng lao động, chưa từng đăng ký kết hôn với ai, mọi sinh hoạt hiện tại đều do người nhà chăm sóc.
Tại “Văn bản ghi nhận quá trình giám định sức khỏe tâm thần theo yêu cầu” số 11/VBGNQTGĐ ngày 24/01/2025, Viện pháp y tâm thần Trung ương đã ghi nhận: “Ngày 08/01/2025 đối tượng được đưa đến Viện pháp y tâm thần trung ương để giám định sức khỏe tâm thần tại phòng khám. Quá trình thăm khám, tiếp xúc đối tượng thấy: Đối tượng tỉnh, tiếp xúc chậm, tai điếc. Các năng lực định hướng rối loạn. Cảm xúc vô cảm. Tri giác không có ảo tưởng, ảo giác. Tư duy nhịp chậm, tự nói một mình, nói ngọng một vài câu đơn giản, không có hoang tưởng, ám ảnh, định kiến. Hành vi rối loạn, chậm, thụ động, đi lại khó khăn do 2 mắt nhìn kém, vệ sinh cá nhân kém, mọi sinh hoạt hàng ngày do người thân trợ giúp. Trí nhớ, trí tuệ kém, không có khả năng giao tiếp, không có khả năng nhận thức xã hội và môi trường xung quanh, không có khả năng phân tích, tổng hợp. Chú ý kém tập trung. Nội khoa, thần kinh chưa phát hiện gì đặc biệt.”.
Theo "Kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo yêu cầu” số 11/KLGĐYC ngày 24/01/2025 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận
PAGE \* MERGEFORMAT 5
“Tại thời điểm giám định, đối tượng Nguyễn Thị C bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Vì vậy, chị Nguyễn Thị Kim N yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ và được chấp nhận.
. Xác định người giám hộ và đại diện theo pháp luật của chị Nguyễn Thị C: Căn cứ các quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 49; khoản 4 Điều 54 của Bộ luật Dân sự, xác định bố của chị C là ông Nguyễn Văn M đã lớn tuổi, sức khỏe không đảm bảo hiện nay ông M đã 71 tuổi đang là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4, mẹ của chị C đã chết, chị C không có chồng con. Chị Nguyễn Thị Kim N là em gái ruột của chị Nguyễn Thị C nên chỉ định chị N là người giám hộ và là người đại diện theo pháp luật của chị Nguyễn Thị C.
[4]. Phạm vi đại diện của người giám hộ: Chị Nguyễn Thị Kim N có các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57, Điều 58, Điều 59 và các quy định khác của Bộ luật dân sự.
. Về lệ phí việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điều 39, các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 22, Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 48, Điều 49, Điều 54, Điều 57, 58, 59 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim N về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất năng lực hành vi dân sự.
PAGE \* MERGEFORMAT 5
1.1.Tuyên bố chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Thôn MG, xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội là người mất năng lực hành vi dân sự.
1.2. Chỉ định chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1998; Nơi thường trú: Thôn MG, xã Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội là người giám hộ cho chị Nguyễn Thị C.
2. Chị Nguyễn Thị Kim N có các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57, Điều 58, Điều 59 và các quy định khác của Bộ luật dân sự.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0013421 ngày 10/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
4. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ; - VKSND huyện Phúc Thọ; - UBND xã Trạch Mỹ Lộc; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thanh Hải PAGE \* MERGEFORMAT 5 |