- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tran Thi H - Mat nang luc hanh vi"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ …
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN CƯM’GAR TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2025/QĐST-VDS | CưMgar, ngày 21 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Bế Văn Toàn.
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 42/2025/TLST – VDS, ngày 27/02/2025, về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”. Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2025/QĐST – VDS ngày 13 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Trần Thị N; sinh năm: 1983.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H; sinh năm: 1991.
Cùng trú tại: 318 thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Trần Thị N trình bày:
Bố mẹ tôi là ông Trần Văn T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1942, có ba người con là Trần Thị N, Trần Văn Q và Trần Thị H. Trước đây em tôi Trần Thị H khỏe mạnh bình thường, nhưng từ năm 2012 em tôi có những biểu hiện bất thường và hành động không tự chủ, bản thân thường la hét và đi lung tung. Gia đình tôi đã đưa em H đi khám và điều trị tại Bệnh viện T1 và được chẩn đoán là bị tâm thần phân liệt từ cuối năm 2013. Sau đó gia đình có xin về điều trị tại Trung tâm Y tế huyện C và được Ủy ban Nhân dân xã Q cấp giấy xác nhận khuyết tật, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng. Để đảm bảo quyền lợi cho em tôi và gia đình trong các giao dịch dân sự, quản lý tài sản,...tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar tuyên bố em tôi là Trần Thị H, sinh năm: 1991 mất năng lực hành vi dân sự.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra Quyết định giải quyết việc dân sự, thẩm phán đã thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 366, Điều 377 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành các thủ tục đúng theo quy định tại Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, người yêu cầu đã làm bản tự khai, chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ theo đơn yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị N và căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 94/KLGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Trung tâm P, kết luận:
Về y học: Đương sự Trần Thị H bị bệnh tâm thần phân liệt, giai đoạn sa sút trí tuệ. (Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 có mã bệnh: F20 – ICD.10).
Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
Hiện tại đương sự Trần Thị H mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Vì vậy, việc bà Trần Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị H mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ. Đề nghị Tòa án: Áp dụng 370, 376, 378 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 22 Bộ luật dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của bà N. Tuyên bố bà Trần Thị H, sinh năm 1991 là người mất năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Bà Trần Thị N phải chịu tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện CưMgar nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị H là người mất năng lực hành vi dân sự. Bà Trần Thị H hiện đang cư trú tại: 318 thôn T, xã Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CưMgar theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu, bản tự khai của người yêu cầu bà Trần Thị N khai: Em gái bà là Trần Thị H sinh năm 1991, Trước đây em tôi khỏe mạnh bình thường, nhưng từ năm 2012 em tôi có những biểu hiện bất thường và hành động không tự chủ, bản thân thường la hét và đi lung tung. Gia đình tôi đã đưa em H đi khám và điều trị tại Bệnh viện T1 và được chẩn đoán là bị tâm thần phân liệt từ cuối năm 2013. Sau đó gia đình có xin về điều trị tại Trung tâm Y tế huyện C và được Ủy ban Nhân dân xã Q cấp giấy xác nhận khuyết tật, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng. Để đảm bảo quyền lợi cho em tôi và gia đình trong các giao dịch dân sự… tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar tuyên bố em tôi Trần Thị H, sinh năm 1991 mất năng lực hành vi dân sự.
Tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự quy định “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra Quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần..”
Để có cơ sở giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân huyện CưMgar đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định đối với năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị H. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần số 94/KLGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Trung tâm P, kết luận:
Về y học: Đương sự Trần Thị H bị bệnh tâm thần phân liệt, giai đoạn sa sút trí tuệ. (Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 có mã bệnh: F20 – ICD.10).
Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại (Tại thời điểm giám định) đương sự Trần Thị H mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, trình bày của đương sự, tại phiên họp xét thấy yêu cầu của bà Trần Thị N yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị H mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.
Về chi phí giám định và lệ phí:
Về chi phí giám định: Bà Trần Thị N đã nộp trực tiếp cho Trung tâm P nên Tòa án không đặt ra để xem xét.
Về lệ phí: Bà Trần Thị N phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Trần Thị N
[2] Tuyên bố: Bà Trần Thị H, sinh ngày 23/7/1991 là người mất năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự bà Trần Thị H phải theo quy định của pháp luật.
[3] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai số AA/2023/0014661 ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CưM’gar.
[4] Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Quyết định hoặc quyết định được niêm yết, thông báo;
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư Mgar; - Chi cục THADS huyện CưMgar; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Bế Văn Toàn |