vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐST-VDS — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1944, cư trú tại ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau là người mất năng lực hành vi dân sự. Về người giám hộ: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Yêu cầu tuyến bố mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2025/QĐST-VDSCà Mau, ngày 31 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Càn.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ánh Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Dương Tấn Viễn – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 586/2025/TLST-VDS ngày 09 tháng 12 năm 2025 về yêu cầu “tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 293/2025/QĐPH-DS ngày 15 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau - căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 14/8/2021 (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1944. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau - căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 28/7/2025.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn B: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

2. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1945. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau

- căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 13/8/2021 (vắng mặt).

3. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963. Địa chỉ cư trú: Ấp T1, xã T2, tỉnh Cà Mau - căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 16/9/2021 (vắng mặt).

4. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau - căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1944, cư trú tại ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau (ông B là chồng của bà Huỳnh Thị K và là cha của ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị A).

Lịch sử bản thân: Lúc nhỏ, sự phát triển thể chất, tâm thần bình thường. Không ghi nhận tiền sử nghiện chất, không ghi nhận tiền sử chấn thương sọ não. Thời gian gần đây, đương sự dần suy giảm hoạt động nhận thức, giảm trí nhớ, nói chuyện lẫn lộn, có lúc không nhận ra người thân, sinh hoạt cá nhân cần người nhà giúp đỡ, thường xuyên đi lang thang không biết đường về. Hiện nay đương sự lú lẫn, không nhận ra người thân, vận động chậm chạp, sinh hoạt cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào người nhà. Đương sự đang được hưởng trợ cấp hàng tháng tại địa phương theo diện người khuyết tật thần kinh, tâm thần.

Quá trình theo dõi giám định: Hiện tại, đương sự lú lẫn, không nhận ra người thân, cảm xúc thờ ơ, vô cảm; không nói, mất ngôn ngữ, giảm khả năng tư duy trừu tượng, giảm khả năng phán đoán, nhận xét; hành vi chậm chạp, mất khả năng chấp hành, mất dùng động tác; không khả năng tập trung chú ý; trí nhớ - trí năng rất kém.

Ông Nguyễn Văn C yêu cầu giám định pháp y tâm thần để bổ sung thủ tục phân chia tài sản thừa kế đối với ông Nguyễn Văn B và đã được Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận “Đương sự mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do mất trí mức độ nặng”.

Bà Huỳnh Thị K, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị A thống nhất giao cho ông C tiến hành thực hiện các thủ tục để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với ông B; đồng thời chỉ định ông C là người giám hộ cho ông Bảy trong trường hợp Tòa án tuyên bố ông B mất năng lực hành vi dân sự.

Từ nội dung trên, ông Cường yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Văn B là một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau có ý kiến: Qua các tài liệu chứng cứ đã xác định ông Nguyễn Văn B mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do mất trí mức độ nặng nên áp dụng các điều 366, 369, 370, 371, 372 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Bảy mất năng lực hành vi dân sự; đồng thời chỉ định người giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau nhận định:

Ông Nguyễn Văn B bị lú lẫn, không nhận ra người thân, cảm xúc thờ ơ, vô cảm; không nói, mất ngôn ngữ, giảm khả năng tư duy trừu tượng, giảm khả năng phán đoán, nhận xét; hành vi chậm chạp, mất khả năng chấp hành, mất dùng động tác; không khả năng tập trung chú ý; trí nhớ - trí năng rất kém. Theo kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 454/2025/KLGĐYC ngày 06/11/2025 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ xác định ông B mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do mất trí mức độ nặng.

Do vậy, yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố ông Bảy là người bị mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với tình trạng hiện nay của ông Bảy nên được chấp nhận.

Theo biên bản họp gia đình ngày 14/12/2025 có xác nhận của Trưởng ấp T và Ủy ban nhân dân xã Đ thì bà Huỳnh Thị K, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị A thống nhất chỉ định ông C là người giám hộ cho ông Bảy trong trường hợp Tòa án tuyên bố ông B mất năng lực hành vi dân sự.

Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các đương sự về người người giám hộ là tự nguyện, phù hợp với các điều 46, 47, 48, 49, 53, 57 và 58 của Bộ luật Dân sự nên ông C là người giám hộ cho ông B và xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ theo quy định.

Lệ phí yêu cầu việc dân sự: Theo khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông C phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 149, các điều 366, 369, 370, 371, 372 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 22, 46, 47, 48, 49, 53, 57 và 58 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C.

Tuyên bố ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1944, cư trú tại ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Về người giám hộ:

Chỉ định ông Nguyễn Văn C là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn B.

Ông C thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ và quyền quản lý tài sản của người được giám hộ theo quy định tại các điều 57, 58 và 59 của Bộ luật Dân sự.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0006087 ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau (ông C đã nộp xong).

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ