vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu về việc huỷ việc kết hôn nhân trái pháp luật giữa anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2014-2015 ngày 18/3/2015 của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố…

Công nhận quan hệ hôn nhân của anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996, chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 kể từ ngày 27/02/2016. Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu không phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ủy ban nhân dân phường K và anh Giàng A S và chị Phàng Thị S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu về việc huỷ việc kết hôn nhân trái pháp luật giữa anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2014-2015 ngày 18/3/2015 của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố…
  • Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2025/QĐST-HNGĐTP Lai Châu, ngày 18 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: “Yêu c u h y kết hôn trái pháp luật”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Nga

Thư ký phiên họp: Ông Lý Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu tham gia phiên họp: Ông Tăng Bá Vương - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2025 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật” và “Công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2025/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Địa chỉ trụ sở: Tổ 10, phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tiến D – Chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Giàng A S, sinh ngày 27/02/1996

Địa chỉ: Bản Thành Lập, phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (có mặt).

2. Chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997

Địa chỉ: Bản Thành Lập, phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, người đại diện theo pháp luật ông Phạm Tiến D vắng mặt tại phiên họp nhưng theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, ông Phạm Tiến Dũng trình bày:

Anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996 và chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 hiện đang cư trú tại Bản Thành Lập, phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu có đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2015 tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Qua công tác kiểm tra, rà soát hồ sơ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân phường K thì ngoài sổ lưu đăng ký kết hôn ra thì không có giấy tờ, thông tin gì khác mà anh Sinh, chị S giao nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2015. Tính đến ngày đăng ký kết hôn là ngày 18/3/2015, anh Sinh chưa từ đủ 20 tuổi trở lên (anh Sinh 19 tuổi 19 ngày). Hiện nay căn cứ vào giấy khai sinh, căn cước công dân của Giàng A Sinh, chị Phàng Thị S cung cấp cho Ủy ban nhân dân phường, thì phát hiện việc đăng ký kết hôn của anh Sinh và chị S được thực hiện vào ngày 18/3/2015 là không đúng quy định của pháp luật, khi kết hôn anh Sinh là chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (vi phạm điều kiện kết hôn). Ngoài ra, anh Sinh và chị S không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S theo giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2014-2015 đăng ký ngày 18/3/2015 tại UBND phường K thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

* Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên họp những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S đều trình bày:

Anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996, chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 hiện nay cả hai cùng đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Bản Thành Lập, phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Anh Sinh chung sống với chị S từ tháng 10/2011. Trong quá trình chung 04 con chung tên Giàng Thị Mang, sinh ngày 28/9/2012; Giàng Thanh Dương, sinh ngày 05/6/2014; Giàng Thị Thủy, sinh ngày 06/6/2022; Giàng A Phỏng, sinh ngày 01/3/2025 (chưa đăng ký khai sinh). Anh Sinh và chị S có đăng ký kết hôn ngày 18/3/2015 tại Ủy ban nhân dân phường K thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Quá trình thực hiện thủ tục kết hôn tại UBND phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, do anh Sinh thiếu hiểu biết pháp luật và muốn được kết hôn với chị S nên đã được bố đẻ của anh Sinh đi làm thủ tục đăng ký kết hôn và anh chị đến Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu ký vào các giấy tờ đăng ký kết hôn, nhưng do Ủy ban nhân dân phường không kiểm tra chặt chẽ và yêu cầu anh Sinh, chị S nộp giấy tờ liên quan đến năm sinh của anh Sinh, chị S. Ngoài ra, anh Sinh, chị S không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác của Luật Hôn nhân và gia đình. Nay anh Sinh, chị S đồng ý với yêu cầu của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu về việc hủy kết hôn trái pháp luật ngày 18/3/2015 và anh Sinh, chị S đều khẳng định, hiện nay anh, chị vẫn chung sống hạnh phúc, mong muốn duy trì quan hệ hôn nhân, xây dựng gia đình hạnh phúc nên anh chị cùng có ý kiến đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm anh Sinh đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định.

* Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Sau khi nghiên cứu hồ sơ và tại phiên họp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát như sau: Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự được đảm bảo. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thu thập và kết quả tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, áp dụng: khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8, điểm b khoản 2 Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016. Đề xuất giải quyết về nội dung việc dân sự sơ thẩm như sau:

- Chấp nhận yêu cầu của UBND phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu: Huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2014-2015 đăng ký ngày 18/3/2015 tại UBND phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu và chấp nhận đề nghị của anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S, về việc công nhận quan hệ hôn nhân của anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S kể từ thời điểm anh Sinh đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 27/02/2016.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Người yêu cầu không phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu, ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tại phiên họp, Tòa án nhân thành phố Lai Châu nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Đây là yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, do việc đăng ký kết hôn cho anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S được thực hiện tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp ngày hôm nay các đương sự đều thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Trước khi mở phiên họp, người yêu cầu Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết việc dân sự vắng mặt. Do đó, Toà án tiếp tục phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu là đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đối với yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu: Anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996, chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 có đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2015 tại Ủy ban nhân dân phường K thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2014-2015 đăng ký ngày 18/3/2015 đã xác định và ghi chị S sinh ngày 28/02/1997 và anh Sinh sinh ngày 27/02/1996. Khi cán bộ thực hiện việc đăng ký kết hôn đã không kiểm tra chặt chẽ nên đã đăng ký kết hôn cho anh Sinh với chị S. Thời điểm kết hôn, anh Giàng A Sinh chưa đủ tuổi theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối chiếu với căn cước công dân, giấy khai sinh của anh Giàng A Sinh xác định được anh Giàng A Sinh sinh ngày sinh ngày 27/02/1996, như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Sinh mới 19 tuổi 19 ngày nên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn quy định: “Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên”. Tại thời điểm 18/3/2015, UBND phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thực hiện đăng ký kết hôn cho anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S đã vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Nay Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu có đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, giữa anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S là đảm bảo đúng quy định của pháp luật và có căn cứ, cần được chấp nhận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S: Việc đăng ký kết hôn giữa anh Sinh và chị S vào ngày 18/3/2015, tại Ủy ban nhân dân phường phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu chỉ vi phạm quy định về độ tuổi của anh Sinh, ngoài ra không vi phạm các điều kiện khác về đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì anh Sinh đã đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn (anh Sinh đủ tuổi kết hôn kể từ ngày 27/02/2016). Anh Sinh và chị S đang chung sống hạnh phúc, anh chị đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình và cùng có ý kiến đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của anh Sinh, chị S kể từ thời điểm anh Sinh đủ tuổi kết hôn là ngày 27/02/2016. Xét thấy, đề nghị của anh Sinh và chị S là có căn cứ và cần được chấp nhận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8, điểm b khoản 2 Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016, hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tại Quyển sổ đăng ký kết hôn số 01/2014-2015 trang 115 thể hiện số vào sổ đăng ký kết hôn cho anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S ngày 18/3/2015 ghi là số 16 và chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 nhưng trong Giấy chứng nhận kết hôn do UBND phường K cấp cho anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S lại thể hiện là số 18/2015, quyển 01/2015 và chị Phàng Thị S lại sinh ngày 29/02/1997. Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu cũng đã thừa nhận là có sai xót do chưa soát kỹ hồ sơ nên dẫn đến việc ghi sai số 18 trong giấy chứng nhận kết hôn và ghi sai ngày sinh của chị Phàng Thị S trong giấy chứng nhận kết hôn là ngày 29/02/1997.

Về kiến nghị: Kiến nghị Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996, chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 kể từ ngày 27/02/2016 theo quy định cảu pháp luật theo quy định tại Điều 3, Điều 30 Luật Hộ tịch.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Người yêu cầu không phải nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo Quyết định này theo quy định tại Điều 372 và Điều 373 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đưa ra đề nghị về việc giải quyết vụ việc dân sự là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ việc, vì vậy cần được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, khoản 2 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8, điểm b khoản 2 Điều 10, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 3, Điều 30 Luật Hộ tịch năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016; điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu về việc huỷ việc kết hôn nhân trái pháp luật giữa anh Giàng A Sinh và chị Phàng Thị S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2014-2015 ngày 18/3/2015 của Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Công nhận quan hệ hôn nhân của anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996, chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 kể từ ngày 27/02/2016.

3. Về lệ phí Tòa án: Người yêu cầu không phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

4. Về kiến nghị: Kiến nghị Ủy ban nhân dân phường K, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa anh Giàng A Sinh, sinh ngày 27/02/1996, chị Phàng Thị S, sinh ngày 28/02/1997 kể từ ngày 27/02/2016 theo quy định của pháp luật.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo hoặc niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ