vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, về việc yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò C:

Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C - Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85/2002 ngày 30/10/2002 của UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Chấp nhận yêu cầu của anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C về việc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Huỷ kết hôn trái pháp luật, yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, về việc yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò C:
  • Căn cứ chính? Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Số: 03/2025/QĐST-HNGĐ
Sông Mã, ngày 14 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật )

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Hà Thị Điệp

Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Phương Linh- Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên họp: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 47/2025/TLST-VDS, ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc: Hủy kết hôn trái pháp luật

- Theo Quyết định mở phiên họp số 14/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên họp số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện S, Sơn La; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lò Văn T – Chủ tịch UBND xã ML, huyện S, tỉnh Sơn La. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lò Văn K – Phó Chủ tịch UBND xã ML, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Bạc Cầm D, sinh ngày 26/12/1984; Nơi cư trú: Bản MT, xã ML, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Chị Lò Thị C, sinh ngày 08/7/1984; Nơi cư trú: Bản MT, xã ML, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật đề ngày 02 tháng 12 năm 2024 và đơn đề nghị bổ sung đề ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện S, tỉnh Sơn La. Nội dung việc dân sự như sau:

Uỷ ban nhân dân (UBND) xã ML, huyện S, tỉnh Sơn La nhận được yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lò Thị C, sinh năm 1983 và anh Bạc Cầm D, sinh năm 1983; nơi cư trú: Bản MT, xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 30/10/2002 của UBND xã ML cấp. Qua xem xét đơn được biết: anh Bạc Cầm D có đăng ký kết hôn với chị Lò Thị C vào ngày 30/10/2002 năm sinh của anh D và chị C ghi sinh năm 1983, tuy nhiên thực tế theo giấy tờ tuỳ thân chị C và anh D có ngày tháng năm sinh chính xác như sau: Chị Lò Thị C, sinh ngày 08/7/1984, anh Bạc Cầm D, sinh ngày 26/12/1984. Như vậy, tại thời điểm đăng ký kết hôn anh D mới được 17 tuổi 10 tháng 04 ngày, chị C đã trên 18 tuổi, đối chiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 điều kiện kết hôn “ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”, việc UBND xã ML thực hiện việc đăng ký kết hôn khi anh D chưa đủ 20 tuổi là đã vi phạm điều kiện kết hôn. Nguyên nhân dẫn đến thiếu sót trên do thời điểm đăng ký kết hôn anh D khai sinh năm 1983, cán bộ tư pháp căn cứ tờ khai để làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh D và chị C dẫn đến việc đăng ký kết hôn không đúng theo quy định của pháp luật. UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La căn cứ khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 30/10/2002 do UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cấp.

Tại đơn Bản tự khai và tại phiên họp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C trình bày:

Anh, chị kết hôn từ năm 2002 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La khi đi đăng ký kết hôn hai vợ chồng không mang theo giấy tờ tuỳ thân, tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Du chưa đủ 20 tuổi. Vợ chồng chung sống hạnh phúc có với nhau 03 người con chung, đến khi đi đăng ký khai sinh cho con mới phát hiện năm sinh của hai vợ chồng ghi trong Giấy chứng nhận kết hôn không khớp với giấy tờ tuỳ thân, nên khó khăn cho vợ chồng khi làm các thủ tục giấy tờ liên quan đến nhân thân. Nay UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La có đơn đề nghị Huỷ kết hôn trái pháp luật thì anh, chị đều nhất trí.

Anh D và chị C đều khẳng định từ khi kết hôn đến nay anh, chị luôn sống hạnh phúc và đề nghị Toà án nhân dân huyện Sông Mã công nhận quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng là hợp pháp kể từ ngày đủ điều kiện kết hôn đồng thời công nhận anh, chị có ba người con chung là: Bạc T, sinh ngày 26/01/2003; Bạc Thị M, sinh ngày 18/02/2007 và Bạc Cầm H, sinh ngày 26/8/2023.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã:

*Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự đúng thẩm quyền, xác định đúng yêu cầu, đúng tư cách các đương sự, quá trình giải quyết việc đúng thời hạn quy định. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của BLTTDS. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

*Về nội dung:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;Các Điều 10, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, về việc yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C.

Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C - Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85/2002 ngày 30/10/2002 của UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Chấp nhận yêu cầu của anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C: Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C hợp pháp từ kể từ ngày 26/12/2004. Anh Du và chị Chiên có 03 người con chung là Bạc T, sinh ngày 26/01/2003; Bạc Thị M, sinh ngày 18/02/2007 và Bạc Cầm H, sinh ngày 26/8/2023.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Sông Mã nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu: Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La là người yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C với lý do thời điểm đăng ký kết hôn anh Bạc Cầm D chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật. Anh Du và chị Chiên đều trú tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La và cơ quan đăng ký kết hôn là Uỷ ban xã ML, huyện Sông Mã nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La theo khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu vắng mặttại phiên họp nhưng đã có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét họp tiến hành xét vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu:

Về yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã yêu cầu Huỷ kết hôn trái pháp luật:

Căn cứ nội dung yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo xác định được Anh Bạc Cầm D, sinh ngày 26/12/1984 và chị Lò Thị C, sinh ngày 08/7/1984. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Chiên đã trên 18 tuổi, anh Du mới được 17 tuổi 10 tháng 04 ngày tuổi đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về điều kiện kết hôn như sau: “ Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” . Như vậy, việc UBND xã ML, huyện Sông Mã thực hiện đăng ký kết hôn cho anh Du và chị Chiên tại thời điểm anh Du chưa đủ 20 tuổi là vi phạm vào điều kiện kết hôn, UBND xã ML, huyện Sông Mã có đơn yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Du và chị Chiên là đúng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 10, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cần chấp nhận yêu cầu của UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, huỷ Kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85/2002 ngày 30/10/2002 của UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Về yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Quá trình giải quyết vụ án anh D và chị C nhất trí với đề nghị của UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La và đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh, chị hợp pháp kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn và công nhận anh Du và chị Chiên có 03 người con chung. Xét yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC –VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Do đó cần công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C hợp pháp kể từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn là ngày 26/12/2004. Công nhận anh Du và chị Chiên có 03 người con chung là Bạc T, sinh ngày 26/01/2003; Bạc Thị M, sinh ngày 18/02/2007 và Bạc Cầm H, sinh ngày 26/8/2023.

Về lệ phí: Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

Căn cứ Điều 10 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, về việc yêu cầu Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò C:

Hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C - Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85/2002 ngày 30/10/2002 của UBND xã ML, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

2. Chấp nhận yêu cầu của anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C về việc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp:

Công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Bạc Cầm D và chị Lò Thị C hợp pháp từ kể từ ngày ngày 26/12/2004. Anh Du và chị Chiên có 03 người con chung là Bạc T, sinh ngày 26/01/2003; Bạc Thị M, sinh ngày 18/02/2007 và Bạc Cầm H, sinh ngày 26/8/2023.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Sông Mã không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

4. Về quyền kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày Toà án ra Quyết định, Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ