- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Việc hôn nhân"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2025/QĐST-HNGĐ | P, ngày 07 tháng 03 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Tấn Trường.
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên họp:Bà Nguyễn Thị Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1980; ông Hoàng Văn N, sinh năm 1981; cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân (UBND) xã P, huyện P. Địa chỉ: xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu C - Chủ tịch.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, biên bản lấy lời khai, người yêu cầu bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N trình bày:
Ông bà đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P (cũ) nay là huyện P, tỉnh Bình Phước vào ngày 19/9/2000 trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, khi đi đăng ký kết hôn, cả hai đều lên UBND xã P để thực hiện thủ tục. Thực tế, ông Hoàng Văn N sinh ngày 01 tháng 11 năm 1981, nhưng khi đăng ký kết hôn, ông N đã kê khai ông sinh ngày 01 tháng 11 năm 1980 để tuổi kết hôn theo quy định. Tuy nhiên, thực tế tại thời điểm kết hôn (ngày 19/9/2000) ông N mới 18 tuổi 10 tháng 19 ngày là chưa đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Do đó, ông bà yêu cầu Toà án xem xét huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa ông N với bà H theo Giấy công nhận kết hôn số 62/2000, quyển số 04 ngày 19/9/2000 do UBND xã P cấp cho ông bà, đồng thời công nhận hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm ông N đủ điều kiện kết hôn ngày 01/11/2000 cho đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã P, huyện P trình bày:
Theo sổ bộ đăng ký kết hôn được lưu trữ tại UBND xã P xác định ông Hoàng Văn N và bà Bùi Thị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã P theo Giấy công nhận kết hôn số 62/2000, quyển số 04 ngày 19/9/2000. Trong sổ bộ đăng ký kết hôn, ông N sinh năm 1980 (không có ngày, tháng sinh); bà H sinh năm 1980 (không có ngày, tháng sinh). Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn. Như vậy, về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn, UBND xã P đã thực hiện theo đúng quy định của Luật hôn nhân gia đình. Ông N chỉ cần bước qua tuổi 20, bà H bước qua tuổi 18 (không cần đủ ngày, tháng, năm sinh). Thời điểm năm 2000 ông N đã bước qua tuổi 20. Đối với yêu cầu của bà H, ông N đề nghị Toà án nhân dân huyện P giải quyết theo quy định pháp luật, UBND xã P cũng xin được giải quyết vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp giải quyết vụ việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên họp phát biểu:
Về tố tụng và nội dung vụ việc: Tòa án nhân dân huyện P thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 29; Điều 35 và Điều 39 Bộ luậtTố tụng dân sự.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến, yêu cầu của những người có liên quan đến yêu cầu, đề nghị Thẩm phán chủ tọa phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình căn cứ Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy công nhận kết hôn số 62/2000, quyển số 04 ngày 19/9/2000 của UBND xã P đã cấp cho bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N do vi phạm quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp cho bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N, kể từ ngày ông N đủ tuổi kết hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Phước nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự: Yêu cầu về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” là yêu cầu về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ủy ban nhân dân xã P, huyện P là nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa bà H, ông N nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P.
[2] Tại phiên họp, người yêu cầu bà H, ông N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBDN xã P vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Toà án nhân dân huyện P tiến hành phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
Xét yêu cầu của bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N:
Bà H, ông N đều xác định ông N sinh ngày 01 tháng 11 năm 1981 theo Giấy khai sinh và Căn cước công dân cấp cho ông N. Tại thời điểm đăng ký kết hôn (19/9/2000) ông N khai sinh năm 1980 (để đủ tuổi đăng ký kết hôn) dẫn đến việc UBND xã P chứng nhận và làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy công nhận kết hôn số 62/2000, quyển số 04 ngày 19/9/2000 cho ông N, bà H là không đúng với tuổi thực tế của ông N. Xét thấy, theo ngày tháng năm sinh thực tế của ông N (ngày 01 tháng 11 năm 1981) thì ông N đủ điều kiện (tuổi) kết hôn vào ngày 01 tháng 11 năm 2000, tuy nhiên ngày 19 tháng 9 năm 2000 ông N đã đăng ký kết hôn với bà H là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Do đó, cần huỷ việc kết hôn giữa ông N với bà H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2000, quyển số 04 ngày 19/9/2000 của UBND xã P.
Quá trình giải quyết, cả bà H và ông N cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của ông, bà từ thời điểm ông N đủ điều kiện (tuổi) kết hôn theo quy định. Căn cứ Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”; khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó.”; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân gia đình thì thời điểm ông N đủ điều kiện (tuổi) kết hôn là ngày 01 tháng 11 năm 2000, do đó cần công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông N và bà H kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2000 nên yêu cầu của bà H, ông N được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N phải chịu lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 29; khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 369; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986;
Căn cứ khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016;
Căn cứ khoản 1 Điều 4, Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N.
Hủy việc kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62/2000, quyển số 04 ngày 19/9/2000 của UBND xã P, huyện P (nay là huyện P), tỉnh Bình Phước đã cấp cho bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N.
[2] Công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2000.
[3] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị H, ông Hoàng Văn N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0011678 ngày 12/02/2025.
[4] Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự được quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện P; - Các đương sự; - UBND xã P; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP (đã ký) Đỗ Tấn Trường |