- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Vĩnh T, sinh ngày 02/10/2008.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2025/QĐ-TA | Phú Tân, ngày 03 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phan Thị Như .
2. Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Thị Tú.
Ngày 03 tháng 01 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Phú Tân tiến hành phiên họp xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hình thức trực tuyến, theo Quyết định mở phiên họp số 105/2024/QĐ-TA ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Trần Vĩnh T; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 02/10/2008.
CCCD số: 096208007052; Ngày cấp: 22/3/2023; Nơi cấp: Cục C về TTXH.
Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 8/12.
Nguyên quán: huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
HKTT: Ấp Quảng Phú, xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần vào ngày 15/11/2024 bị Công an xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt 750.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Con ông: Trần Hải Đ và bà Đỗ Thị L.
Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Huỳnh Văn S – Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P (Văn bản uỷ quyền số 07/UQ-LĐTB&XH ngày 03/01/2025). (Có mặt)
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân: Ông Huỳnh Trung Tính – Kiểm sát viên. (Có mặt)
3. Người đại diện hợp pháp của Trần Vĩnh T là: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1987. (Mẹ ruột); Địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Vĩnh T là: Ông Nguyễn Hải D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có những hành vi vi phạm như sau:
Ngày 10/12/2024 Trần Vĩnh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 13/12/2024 Công an xã T đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Vĩnh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 10/12/2024 của Trạm y tế xã T kết luận Trần Vĩnh T nghiện ma túy Methamphetamine (ma tuý đá). Tại tờ tự nhận và bản tường trình cùng ngày 10/12/2024, Trần Vĩnh T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Văn bản đề nghị số: 110/ĐN-CNBB ngày 20/12/2024 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện P về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Vĩnh T.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P vẫn giữ nguyên quan điểm.
- Trần Vĩnh T thừa nhận hành vi vi phạm nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Vĩnh T - ông Nguyễn Hải D trình bày: Quá trình khai báo cũng như tại phiên họp Trần Vĩnh T đã thật thà khai báo nên đề nghị Toà án xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính xem xét rút ngắn thời gian cai nghiện cho Trần Vĩnh T.
Người đại diện hợp pháp của Trần Vĩnh T - bà Đỗ Thị L trình bày: Bà thống nhất với đề nghị của Cơ quan đề nghị, đồng ý đưa Trần Vĩnh T vào cơ sở cai nghiện và đề nghị Toà án áp dụng thời hạn cai nghiện đối với Trần Vĩnh T thời hạn 01 năm để có thể cắt cơn, chữa bệnh.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về trình tự thủ tục đề nghị cũng như trình tự mở phiên họp đảm bảo đúng quy định. Việc đề nghị của đại diện Phòng L là có cơ sở nên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Vĩnh T thời gian từ 06 tháng đến 12 tháng.
XÉT THẤY:
Về trình tự thủ tục: Cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy Trần Vĩnh T sử dụng ma túy, đến ngày 13/12/2024 bị Công an xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau lập biên bản vi phạm hành chính nên thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, Trần Vĩnh T đã sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần nên vào ngày 18/11/2024 UBND xã T đã ban hành Quyết định số 287a/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Trần Vĩnh T thời hạn 01 năm kể từ ngày 18/11/2024. Lẽ ra, Trần Vĩnh T phải nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy với bản thân và cộng đồng, nhưng vì để thỏa mãn ham muốn cá nhân, Trần Vĩnh T đã nhiều lần sử dụng ma túy trái phép khi đang chấp hành biện pháp quản lý của UBND xã. Ngày 10/12/2024 Trần Vĩnh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và tại phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã T Tây kết luận Trần Vĩnh T nghiện ma túy Methamphetamine (ma tuý đá). Đến ngày 13/12/2024 Công an xã T đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Trần Vĩnh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã làm việc với Trần Vĩnh T yêu cầu đăng ký tự nguyện cai nghiện nhưng Trần Vĩnh T không đồng ý tự nguyện cai nghiện. Tại điểm a khoản 1 Điều 33 Luật phòng chống ma túy quy định: “Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện”. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Vĩnh T là phù hợp với quy định Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét hành vi vi phạm và nhân thân của Trần Vĩnh T là người chưa đủ 18 tuổi, nhận thức chưa đầy đủ và sau khi vi phạm đã tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Trần Vĩnh T đã bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý chưa được xóa tiền sự mà tiếp tục tái phạm đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Trần Vĩnh T được xem xét theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của Trần Vĩnh T khi quyết định thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhằm giúp người bị nghiện có thời gian, điều kiện chữa bệnh, lao động và học tập dưới sự quản lý của Nhà nước.
Do đó, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Vĩnh T đề nghị Tòa án áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính để xem xét giảm thời gian chấp hành cai nghiện cho Trần Vĩnh T là có căn cứ; đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp nên được chấp nhận. Đối với ý kiến của người đại diện hợp pháp của Trần Vĩnh T yêu cầu xem xét áp dụng thời hạn 01 năm đối với Trần Vĩnh T để cắt cơn, chữa bệnh, tuy nhiên Toà án xem xét mức áp dụng phù hợp để Trần Vĩnh T có thể chữa bệnh hoàn toàn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Áp dụng các Điều 6, 9, 103, 104, 105 và 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 33 Luật phòng chống ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Vĩnh T, sinh ngày 02/10/2008.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (chín) tháng, kể từ ngày đưa vào Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Cà Mau, ngày 11/12/2024.
Nơi chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau; Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành: Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh C có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - UBND xã Tân Hưng Tây; - Công an huyện Phú Tân; - VKSND huyện Phú Tân; - Phòng LĐ-TB&XH huyện Phú Tân; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phan Thị Như |