vanban.org

Quyết định 03/2025/QĐ-TA

TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 13/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điều 9, điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 và khoản 2 điều 105 Luật Xử lý vi phạm Hành chính; các điều 21, 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ĐQT. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "cai nghiệp bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điều 9, điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 và khoản 2 điều 105 Luật Xử lý vi phạm Hành chính; các điều 21, 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:03/2025/QĐ-TANúi Thành, ngày 13 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Xuân Thuỳ

2. Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Mỹ

Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 20/QĐ-TA ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với:

Họ và tên: ĐQT.

Sinh ngày: 21/6/1989

Số căn cước công dân: 049089003124

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 12/12

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Q.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông ĐQN (chết) và bà PTN.

Tiền án: Không.

Tiền sự:

- Ngày 29/12/2024, Cố ý gây thương tích, bị Công an huyện Núi Thành xử phạt hành chính số tiền 6.500.000 đồng.

- Ngày 03/12/2024, bị Công an xã T quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, xử phạt số tiền 1.750.000 đồng.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Anh Đức – Chuyên viên, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành: Bà Trần Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 09/12/2024, ĐQT bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 09/12/2024 của Chủ tịch UBND xã T. Theo tin báo của quần chúng nhân dân, ngày 17/12/2024, ĐQT có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Theo phiếu kết quả xét nghiệm ma tuý trong cơ thể của Công an xã T, ĐQT dương tính với chất ma tuý. Ngày 17/12/2024, Trung tâm y tế Núi Thành xác định tình trạng ĐQT có nghiện ma tuý, dương tính Marijuana (THC).

ĐQT đã được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý và hướng dẫn làm thủ tục đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo biên bản làm việc ngày 17/12/2024 tại Công an xã T. Tuy nhiên ĐQT không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Uỷ ban nhân dân xã T lập biên bản vi phạm để có cơ sở lập hồ sơ đề nghị đưa ĐQT vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Núi Thành giữ nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Núi Thành áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ĐQT.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên họp có ý kiến: Hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ĐQT được lập đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tòa án nhân dân huyện Núi Thành thụ lý hồ sơ, thông báo thụ lý và quyết định mở phiên họp xem xét việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị đảm bảo theo quy định của pháp luật. Thẩm phán, Thư ký tiến hành phiên họp đảm bảo đúng trình tự quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân. ĐQT sử dụng ma tuý, có kết quả xác định tình trạng nghiện nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định là vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ nên Ủy ban nhân dân xã T, huyện Núi Thành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Núi Thành về đưa ĐQT vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.

Theo biên bản lấy lời khai và tại phiên họp ĐQT trình bày: ĐQT sử dụng ma tuý với tần suất 2 lần/ 1 tuần. Sử dụng lần đầu năm 2012, lần cuối sử dụng ngày 18/12/2024. ĐQT không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Tại phiên họp, ĐQT đã biết tác hại của ma tuý, xin giảm nhẹ thời gian cai nghiện bắt buộc để về hoà nhập cộng đồng, lo cho vợ con.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ việc; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Núi Thành; Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành và người bị đề nghị;

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với ông ĐQT đầy đủ và hợp lệ theo đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tính chất, mức độ hành vi vi phạm hành chính: ĐQT có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã được Uỷ ban nhân dân xã T ban hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong thời gian quản lý, ĐQT vẫn tiếp tục sử dụng. Theo phiếu kết quả ngày 10/12/2024 của cơ quan y tế xác định ĐQT nghiện ma tuý. Tuy nhiên ĐQT không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Ủy ban nhân dân xã T, huyện Núi Thành lập biên bản vi phạm về việc ĐQT có hành vi không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện quy định tại điểm a khoản 1 điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ĐQT là đúng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện Núi Thành, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tại phiên họp phù hợp với các quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp ĐQT đã nhận thức được tác hại của ma túy, mong muốn được tự cai nghiện tại nhà. Tuy nhiên, trong thời gian quy định ĐQT đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên không có cơ sở xem xét yêu cầu tự cai nghiện tại nhà của ĐQT. ĐQT có thái độ thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điều 9, điều 95, điều 96, điều 103, điều 104 và khoản 2 điều 105 Luật Xử lý vi phạm Hành chính; các điều 21, 23, 30, 31, 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ĐQT.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Núi Thành có quyền kháng nghị, kiến nghị, ông ĐQT có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (13/01/2025).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Núi Thành; Công an huyện Núi Thành và Cơ sở cai nghiện ma túy Quảng Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ