- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tiến Đạt - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 76/QĐ-VKSTN ngày 19/8/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình s…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 03/2025/HS-GĐT Ngày 16 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Dũng.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm gồm có: ông Đỗ Văn Thinh, bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục, ông Lê Hữu Chiến, ông Võ Văn Ngầu, ông Lương Minh Trí, ông Trần Quốc Khánh, bà Lê Thị Kim Nga, ông Phan Thanh Tùng, bà Phùng Thị Cẩm Hồng, bà Lê Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
1. Võ Tiến Đ, sinh ngày 20/10/1994; tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh). Nơi cư trú: Số B, đường số A, khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hữu V và bà Châu Thị Minh H; tiền án, tiền sự: không.
2. Châu Thanh T, sinh ngày 02/6/1996 tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh). Nơi cư trú: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Minh T1 và bà Phạm Thị Mỹ L; tiền án, tiền sự: không.
3. Nguyễn Thanh Đ1, sinh ngày 17/01/1984 tại tỉnh Cần Thơ. Nơi cư trú: Số A, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị C1; có vợ Cao Thị Lệ M và 02 người con; tiền án, tiền sự: không.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Khoảng 10 giờ ngày 19/12/2023, tại căn nhà số N Khu B thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh), các bị cáo Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1 đã có hành vi sử dụng máy móc, nguyên liệu không rõ nguồn gốc và tem nhãn, bao bì tự in sản xuất 932 gói thuốc bảo vệ thực vật giả nhãn hiệu Nativo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn B, với tổng trị giá hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật là 89.841.777 đồng, nhằm mục đích buôn bán thì bị Công an bắt quả tang.
Qua điều tra xác định: đầu tháng 9 năm 2023 đến trước khi bị phát hiện, các bị cáo Võ Tiến Đ, Nguyễn Thanh Đ1 và Châu Thanh T đã thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán trót lọt 9.500 gói thuốc bảo vệ thực vật giả nhãn hiệu Nativo, với tổng số tiền 102.100.000 đồng. Bị cáo Đ thu lợi bất chính số tiền 66.100.000 đồng và dùng số tiền thu lợi để tiếp tục sản xuất thuốc bảo vệ thực vật giả, để trả công cho các bị cáo T, Đ1 và mua máy móc, nguyên vật liệu để sản xuất lượng thuốc bảo vệ thực vật giả mới, chưa bán được thì bị phát hiện. Riêng các bị cáo Đ1 và T mỗi bị cáo thu lợi bất chính số tiền 18.000.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết. Ngoài ra, bị cáo T còn thực hiện hành vi của bị cáo Đ mua 2.300 gói thuốc bảo vệ thực vật giả nhãn hiệu Regent của Công ty trách nhiệm hữu hạn B bán lại cho người khác, thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 đồng (đã giao nộp lại).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh) đã tuyên bố các bị cáo Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1 về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”.
Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 195; điểm b và s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 50; Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Tiến Đ 03 năm tù; xử phạt bị cáo Châu Thanh T 02 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ1 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1 theo quy định tại khoản 5 Điều 195 của Bộ luật Hình sự.
Ngày 21/3/2025, các bị cáo Nguyễn Thanh Đ1, Võ Tiến Đ và Châu Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 06/8/2025, Nguyễn Thanh Đ1, Võ Tiến Đ và Châu Thanh T tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 14/2025/HSPT-QĐ đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 76/QĐ-VKSTN ngày 19/8/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh) về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án hình sự sơ thẩm số số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh).
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đ, T và Đ1 là không đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo Đ và T đã tự thú ra các lần phạm tội trước nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo Đ1 có giấy xác nhận khuyết tật nặng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) cấp vào ngày 09/9/2024, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cả 03 bị cáo Đ, T và Đ1 đều có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có cơ sở áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Do đó, yêu cầu thay đổi kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của TAND huyện Đức Hoà (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh) về phần áp dụng điều luật đối với các bị cáo cho đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tội danh, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của TAND huyện Đức Hoà (nay là TAND khu vực 3 - Tây Ninh) tuyên bố Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 195; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về hình phạt:
[2.1] Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là không chính xác, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Bởi vì các bị cáo Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội (bán thuốc bảo vệ thực vật giả) không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (căn cứ Án lệ số 48/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021), dẫn đến việc áp dụng mức hình phạt không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và vai trò của Đ, T, Đ1 trong vụ án, không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm.
[2.2] Xét thấy: Các bị cáo Đ và T phạm tội nhiều lần và đã tự thú ra các lần phạm tội trước nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng. Ngoài ra, bị cáo Đ1 có giấy xác nhận khuyết tật nặng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) cấp vào ngày 09/9/2024 nhưng cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng” để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ1 là thiếu sót. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc đánh giá và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được chính xác và có căn cứ pháp luật.
[3] Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh) về căn cứ áp dụng điều luật tại phần quyết định của bản án sơ thẩm cho đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 382, khoản 5 Điều 388, Điều 393 và Điều 395 của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung theo Luật số 99/2025/QH15 ngày 27/6/2025.
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 76/QĐ-VKSTN ngày 19/8/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2025/HS-ST ngày 18/3/2025 của TAND huyện Đức Hoà (nay là TAND khu vực 3 - Tây Ninh) về căn cứ điều luật áp dụng.
Tuyên bố các bị cáo Võ Tiến Đ, Châu Thanh T và Nguyễn Thanh Đ1 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 195; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Tiến Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Võ Tiến Đ chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 195; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Châu Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Châu Thanh T chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 195, điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Thanh Đ1 chấp hành án.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng nghị giám đốc thẩm có hiệu lực theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (thay b/c); - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND khu vực 3 - Tây Ninh; - VKSND khu vực 3 - Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu: VP; HSVA; GĐKT,TTr & THA (M). | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quốc Dũng |