- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Chị C1 - Anh A1"
- Tòa quyết gì? Về yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K1 TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2024/QĐST-VHNGĐ | K1, ngày 04 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu xác định cha, mẹ cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K1 – TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Đức Huấn.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Thăng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K1, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K1, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã K1, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2024/TLST-VHNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2024/QĐST-VHNGĐ ngày 22/7/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu dân cư K 4, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trọng A1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ dân phố 14, phường YN, quận HĐ, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị C1 và anh A1: Ông Phạm Bá Trưởng, sinh năm 1991. Địa chỉ: CH 1812, Tòa CT1A chung cư Hateco Apollo Xuân Phương, TDP số 2 Tu Hoàng, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Chị C1, anh A1 và ông Phạm Bá Trưởng vắng mặt tại phiên họp.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
- Theo đơn yêu cầu và bản tự khai, chị Nguyễn Thị C1 là người yêu cầu trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng A1 có quan hệ tình cảm và có con chung là cháu Nguyễn Khánh T1, sinh ngày 30/6/2021; giới tính: Nữ; nơi sinh: Bệnh viện đa khoa HĐ; địa chỉ: Số 2 Bế Văn Đàn, phường Quang Trung, quận HĐ, thành phố Hà Nội. Tên Nguyễn Khánh T1 được anh chị đặt và được mọi người gọi từ khi sinh ra đến nay nhưng chưa được ghi nhận tại bất kỳ văn bản giấy tờ pháp lý nào.
Ngày 30/6/2021, chị được anh Nguyễn Trọng A1 đưa đến Bệnh viện đa khoa HĐ nhập viện và sinh con, nhưng vì lý do cá nhân nên khi làm thủ tục nhập viện chị và anh A1 đã thống nhất không kê khai thông tin thật của chị C1 mà sử dụng tên giả là Hoàng Khánh Ngọc. Vì vậy, đến nay chị và anh A1 đã thực hiện các thủ tục xác minh nhân thân của chị tại địa phương nhưng Bệnh viện đa khoa HĐ không có cơ sở để cấp giấy chứng sinh hoặc bất kỳ giấy tờ nào tương đương giấy chứng sinh cho cháu Nguyễn Khánh T1.
Ngày 19/12/2022, chị và anh A1 đăng ký kết hôn tại UBND phường YN, quận HĐ, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên do chị sinh con tại Bệnh viện đa khoa HĐ nhưng bệnh viện không có cơ sở để cấp giấy chứng sinh cho chị, mặc dù chị C1 và anh Trọng Anh đã nộp hồ sơ thực hiện các thủ tục hành chính nhưng UBND phường A, thị xã K không có đủ cơ sở để đăng ký khai sinh và đăng ký nhận cha Nguyễn Trọng A1, mẹ Nguyễn Thị C1, con Nguyễn Khánh T1 theo quy định của pháp luật. Để có căn cứ chứng minh cho quan hệ mẹ con giữa chị và cháu Nguyễn Khánh T1, quan hệ cha con giữa anh Nguyễn Trọng A1 và cháu Nguyễn Khánh T1 nên chị và anh A1 đã tiến hành giám định AND huyết thống để thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan.
Nay chị xác định cháu Nguyễn Khánh T1 là con ruột của chị và anh Nguyễn Trọng A1 nên đề nghị Tòa án xác định chị và anh Nguyễn Trọng A1 là cha, mẹ đẻ của cháu Nguyễn Khánh T1.
- Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng A1 trình bày: Về quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân và quan hệ về con chung như chị C1 đã trình bày là đúng. Anh đã được chị C1 thông báo về việc chị đề nghị Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hải Dương xác định anh là cha đẻ của cháu Nguyễn Khánh T1 và chị Nguyễn Thị C1 là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Khánh T1. Quan điểm của anh là đồng ý với yêu cầu của chị C1 và đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của chị C1 theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho anh, chị C1 và cho cháu Nguyễn Khánh T1. Do điều kiện đi lại và bận công việc nên anh ủy quyền cho ông Phạm Bá Trưởng thay mặt anh giao, nhận các văn bản tố tụng, tham gia tố tụng, đưa ra quan điểm giải quyết vụ việc, các thủ tục pháp lý khác…với Tòa án.
- Tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 15/5/2024, Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền Gentis kết luận: Chị Nguyễn Thị C1 và trẻ Nguyễn Khánh T1 có quan hệ huyết thống Mẹ-Con với xác xuất 99,99999%; anh Nguyễn Trọng A1 và trẻ Nguyễn Khánh T1 có quan hệ huyết thống Cha-Con với xác xuất 99,999999%.
Tại phiên họp:
- Chị C1, anh A1 thông qua người đại diện có đơn đề nghị Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Đây là việc dân sự yêu cầu xác định cha, mẹ cho con, Tòa án nhân dân thị xã K thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như tại phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán và Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự; đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C1. Xác định chị Nguyễn Thị C1 và anh Nguyễn Trọng A1 là cha, mẹ đẻ của cháu Nguyễn Khánh T1, sinh ngày 30/6/2021; về lệ phí Tòa án: Miễn nộp lệ phí Tòa án sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho chị Nguyễn Thị C1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã K nhận định:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Người yêu cầu có đơn yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con, đây là yêu cầu được quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu cư trú tại khu dân cư K 4, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương nên việc Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân (Viết tắt: TAND) thị xã K theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị C1, anh A1 thông qua người đại diện có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
. Về nội dung:
. Chị Nguyễn Thị C1 có quan hệ tình cảm và có thai với anh Nguyễn Trọng A1. Ngày 30/6/2021, chị C1 làm thủ tục nhập viện tại Bệnh viện đa khoa HĐ để sinh con. Khi đó, vì lý do cá nhân, chị C1, anh A1 đã thống nhất khai không đúng thông tin thật của chị C1 mà sử dụng tên giả là Hoàng Khánh Ngọc. Cùng ngày, chị C1 sinh con Nguyễn Khánh T1. Căn cứ thông tin chị C1, anh A1 khai báo, Bệnh viện đa khoa HĐ đã cấp giấy chứng sinh cho cháu Nguyễn Khánh T1 mang tên mẹ là Hoàng Khánh Ngọc. Do giấy chứng sinh không ghi đúng tên của mình nên chị C1 không thể làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Khánh T1 mặc dù đã làm đầy đủ các thủ tục xác minh về nhân thân. Ngày 19/12/2022, chị và anh A1 đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường YN, quận HĐ, thành phố Hà Nội. Nay chị yêu cầu Tòa án xác định chị và anh A1 là cha, mẹ của cháu Nguyễn Khánh T1. Anh Nguyễn Trọng A1 nhất trí với yêu cầu của chị C1.
. Tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 15/5/2024, Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền Gentis kết luận: Chị Nguyễn Thị C1 và trẻ Nguyễn Khánh T1 có quan hệ huyết thống Mẹ-Con với xác xuất 99,9999%; anh Nguyễn Trọng A1 và trẻ Nguyễn Khánh T1 có quan hệ huyết thống Cha-Con với xác xuất 99,9999%.
. Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định yêu cầu của chị C1 là có căn cứ, cần xác định chị Nguyễn Thị C1 và cháu Nguyễn Khánh T1 có quan hệ huyết thống Mẹ-Con; anh Nguyễn Trọng A1 và cháu Nguyễn Khánh T1 có quan hệ huyết thống Cha-Con.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị C1 yêu cầu xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên và có đơn xin miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự cho chị C1.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 10 Điều 29; điểm a khoản 2 Điều 35; t khoản 2 Điều 39; khoản 2 và khoản 3 Điều 367; các điều 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 89, 91; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình của chị Nguyễn Thị C1.
Xác định chị Nguyễn Thị C1 và cháu Nguyễn Khánh T1, sinh ngày 30/6/2021 có quan hệ huyết thống Mẹ-Con; anh Nguyễn Trọng A1 và cháu Nguyễn Khánh T1, sinh ngày 30/6/2021 có quan hệ huyết thống là Cha-Con
2. Lệ phí Tòa án: Miễn nộp lệ phí Tòa án sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho chị Nguyễn Thị C1. Trả lại chị Nguyễn Thị C1 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002585 ngày 12/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã K.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Đặng Đức Huấn |