- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu xác định cha cho con đối với Hà Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự xác định cha cho con của chị Hà Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH TH Số: 03/2024/QĐST - VDS QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/V Yêu cầu xác định cha cho con | NL, ngày 13 tháng 8 năm 2024 |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL, TỈNH TH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Xuân Vinh
Thư ký phiên họp: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 109/2024/TLST-DS ngày 16/7/2024 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”, theo quyết định mở phiên họp số 06/2024/QĐST-VDS ngày 30 tháng 7 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sư: Chị Hà Thị T, sinh năm 1987. (Là mẹ của cháu có tên dự kiến: Phạm Anh D, sinh gày 01/01/2024). Nơi cư trú: Thôn HS, xã NS, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn HS, xã NS, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
- Anh Bùi Ngọc K, sinh năm1986. Nơi cư trú: Thôn CT, xã CT, huyện NL, tỉnh TH. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Trong đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp chị Hà Thị T trình bày: Chị và anh Bùi Ngọc K là vợ chồng có đăng ký kết hôn, do mâu thuẫn vợ chồng, nên từ tháng 8/2019 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh K, không ai quan tâm đến ai. Trong thời gian sống ly thân và chờ làm thủ tục ly hôn, chị đã phát sinh tình cảm và quan hệ với anh Phạm Văn T, dẫn đến việc chị và anh T có một con chung sinh ngày 01/01/2024 dự kiến đặt tên Phạm Anh D. Trong quá trình giải quyết ly hôn với anh K chị không khai báo chị có thai mà chỉ khai nhận chị và anh K có 02 con chung. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 126/2023/QĐST - HNGĐ ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện NL đã Quyết định Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị và anh Bùi Ngọc K và công nhận sự thỏa thuận của chị và anh K về việc mỗi người nuôi một con, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi sinh con chị và anh Phạm Văn T đã mang con đến Công ty TNHH TMDV NOVAMED lấy mẫu xét nghiệm ADN của Phạm Văn T và người có tên dự kiến Phạm Anh D. Kết quả xét nghiệm ADN kết luận: Phạm Văn T có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Phạm Anh D, độ tin cậy 99,9999%. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh Phạm Văn T là cha của cháu Phạm Anh D theo quy định của pháp luật.
Mục đích yêu cầu xác định anh Phạm Văn T là cha của cháu Phạm Anh D, sinh ngày 01/01/2024 là để đảm bảo quyền lợi của cháu Phạm Anh D theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 17/7/2024 và tại phiên họp anh Phạm Văn T công nhận nội dung chị Hà Thị T trình bày là đúng thực tế và anh nhất trí với yêu cầu của chị Hà Thị T, đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh là cha của cháu Phạm Anh D, sinh ngày 01/01/2024 theo quy định của pháp luật.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Ngọc K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh K không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị T và cũng không tham gia phiên họp. Tại biên bản hòa giải trong vụ án ly hôn giữa chị T và anh K, đã thể hiện anh K: Công nhận từ tháng 8/2019 chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn HS, xã NS, huyện NL sinh sống, anh và chị T đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai, anh và chị T có 02 con chung là Bùi Thị Yến N, sinh ngày 10/4/2006 và Bùi Quang H, sinh ngày 17/7/2007, anh đồng ý mỗi người nuôi một con, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký, Thành phần giải quyết việc dân sự và người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn T tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi tiến hành phiên họp, đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Văn K vắng mặt là tự bỏ đi quyền lợi của mình. Đề nghị chủ tọa phiên họp áp dụng: Khoản 10 Điều 29; khoản 1 Điều 35; Điều 366; Điều 369; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 90; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị T về việc yêu cầu xác định anh Phạm Văn T, sinh năm 1980 là Cha của cháu Phạm Anh D, sinh ngày 01/01/2024. Buộc chị Hà Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện NL nhận định:
[1] Về Thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng của Tòa án: Chị Hà Thị T yêu cầu Tòa án xác định anh Phạm Văn T là Cha của cháu Phạm Anh D, Tòa án nhân dân huyện NL thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 10 Điều 29, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 366; Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 90 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về yêu cầu giải quyết: Căn cứ lời trình bày của chị Hà Thị T, anh Phạm Văn T và căn cứ Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 126/2023/QĐST - HNGĐ ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH đã Quyết định Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Thị T và anh Bùi Ngọc K và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc mỗi người nuôi một con, không ai phải cấp dưỡng nuôi con và căn cứ kết quả xét nghiệm ADN ngày 11/7/2024 của Phạm Văn T, sinh ngày 04/4/1980 và người có tên dự kiến Phạm Anh D, sinh ngày 01/01/2024. Kết luận: Phạm Văn T có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Phạm Anh D, độ tin cậy 99,9999%. Chị Hà Thị T yêu cầu xác định anh Phạm Văn T là cha của cháu Phạm Anh D là phù hợp với quy định tại Điều 88, Điều 90 và khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tại bản tự khai và tại Phiên họp anh Phạm Văn T công nhận nội dung chị T trình bày là đúng và đề nghị Tòa án xác định anh là cha của cháu Phạm Anh D. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị T về việc yêu cầu xác định anh Phạm Văn T là cha của người có tên dự kiến Phạm Anh D, sinh ngày 01/01/2024.
[3] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên họp phù hợp với các tài liệu chứng cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về lệ phí: Chị Hà Thị T phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 10 Điều 29; khoản 1 Điều 35; Điều 366; Điều 369 và Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 90; khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự xác định cha cho con của chị Hà Thị T.
Xác định anh Phạm Văn T, sinh ngày 04/4/1980 là cha của người có tên dự kiến: Phạm Anh D, sinh ngày 01/01/2024.
Về lệ phí: Chị Hà Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền lệ phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004285 ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL.
Chấp nhận chị Hà Thị T đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.
Về quyền kháng cáo:
- Chị Hà Thị T và anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Anh Bùi Ngọc K có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện NL có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TH có quyền kháng nghị này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện NL; - TAND tỉnh TH; - UBND xã NS, huyện NL; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Xuân Vinh |