- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Đỗ Thị Q"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2024/QĐST-HNGĐ | Yên Sơn, ngày 26 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Mạnh Hồng
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/TB-TA, ngày 15 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đỗ Thị Q, sinh năm 1939
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Mai T, sinh ngày 06/01/1962.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và quá trình giải quyết việc dân sự bà Đỗ Thị Q trình bày:
Bà kết hôn với ông Lê Văn L vào khoảng năm 1958, giữa bà và ông L sinh được 05 người con chung, trong đó có 01 người con gái là bà Lê Thị Mai T, sinh ngày 06/01/1962, bà Lê Thị Mai T từ khi sinh ra đã bị câm điếc bẩm sinh. Bà T vẫn sinh sống với vợ chồng bà từ nhỏ cho đến nay, mọi giao dịch đều thông qua bà, do bà đứng ra đại diện; từ nhỏ bà T cũng không được học qua trường lớp nào đối với người khuyết tật (câm, điếc); tuy vẫn tự sinh hoạt được nhưng việc nhận thức và giao tiếp xã hội của bà T rất hạn chế; việc tiếp xúc với bà T gặp nhiều khó khăn, tính tình cảm xúc không ổn định dễ nổi khùng và hay đi lại nhiều, hiện nay đang được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật.
Quá trình chung sống bà và ông Lê Văn L có tạo dựng được một số tài sản chung trong đó có quyền sử dụng đất, tuy nhiên ông L đã chết vào năm 2001 nhưng không để lại di chúc nên chưa thực hiện việc phân chia tài sản được. Hiện nay bà muốn thực hiện việc phân chia tài sản cho các con nhưng bà Lê Thị Mai T có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi nên không thực hiện được.
Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tuyên bố bà Lê Thị Mai T là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi; đồng thời xác định bà (Đỗ Thị Q) là người giám hộ cho bà Lê Thị Mai T để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Xét thấy, yêu cầu của bà Đỗ Thị Q đề nghị tuyên bố bà Lê Thị Mai T là người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi là có căn cứ nên cần chấp nhận; đồng thời xác định bà (Đỗ Thị Q) là người giám hộ cho bà Lê Thị Mai T theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết: Bà Đỗ Thị Q yêu cầu tuyên bố bà B Lê Thị Mai T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bà Đỗ Thị Q có địa chỉ cư trú tại: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, vì vậy yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a, khoản 2 Điều 35, điểm a, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp người yêu cầu là Bà Đỗ Thị Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Mai Thanh vắng m, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và ý kiến trình bày lưu trong hồ sơ vụ việc. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
. Về xem xét nội dung yêu cầu: Bà Đỗ Thị Q yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị Mai T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vì bà T bị câm, điếc bẩm sinh từ nhỏ nên khó khăn trong giao tiếp, từ nhỏ bà T cũng không được học qua trường lớp nào đối với người khuyết tật (câm, điếc); tuy vẫn tự sinh hoạt được nhưng việc nhận thức và giao tiếp xã hội của bà T rất hạn chế; việc tiếp xúc với bà T gặp nhiều khó khăn, tính tình cảm xúc không ổn định dễ nổi khùng và hay đi lại nhiều, hiện nay đang được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người khuyết tật.
Tại kết luận giám định sức khoẻ tâm thần số: 16/2024/SKTTNT, ngày 12/4/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền N Phía Bắc, đối với bà Lê Thị Mai T đã kết luận:
- Bà Lê Thị Mai T bị bệnh Chậm phát triển tâm thần mức độ vừa – có mã F72 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).
- Hiện tại: Bà Lê Thị Mai T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Do đó, Bà Đỗ Thị Q yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị Mai T là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là có căn cứ, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 23 Bộ luật dân sự.
[3]. Về người giám hộ cho bà Lê Thị Mai T: Tại thời điểm yêu cầu bà Lê Thị Mai T không có năng lực để thể hiện ý chí của mình là đồng ý ai là người giám hộ cho mình theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật dân sự. Xét thấy, bà Lê Thị Mai T không có chồng, con, có bố là ông Lê Văn L đã chết, hiện nay chỉ còn mẹ đẻ là bà Đỗ Thị Q còn sống, đồng thời bà Q cũng là người ở cùng và chăm sóc bà T từ nhỏ cho đến nay, bà Q đề nghị làm người giám hộ cho bà T là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, chỉ định bà Đỗ Thị Q là người giám hộ cho bà Lê Thị Mai T theo quy định tại khoản 3 Điều 53 của Bộ luật dân sự là có căn cứ.
Bà Đỗ Thị Q có các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm bà Đỗ Thị Q thuộc trường hợp được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự (người cao tuổi) nên miễn toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Đỗ Thị Q theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 23, khoản 2 Điều 46, Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự;
- Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Q về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
Tuyên bố: Bà Lê Thị Mai T, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Bà Đỗ Thị Q là người giám hộ cho bà Lê Thị Mai T. Bà Đỗ Thị Q có các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, 58, 59 của Bộ luật dân sự.
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự cho bà Đỗ Thị Q.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết công khai.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Tiến Hào Đặng Thị Huệ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Vũ Mạnh Hồng Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Mạnh Hồng |