vanban.org

Quyết định 03/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 28/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Võ Văn T.

Tuyên bố bà Ngô Thị N, sinh năm 1957, nơi cư trú cuối cùng Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố bà Ngô Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày chết của bà Nở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Võ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2024/QĐST-DST, ngày 28 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lâm Thị Mai Xuân

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Phước Thành

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 113/2023/TLS-VDS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2024/QĐST-VDS ngày 08 tháng 5 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Võ Văn T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khóm a, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô T N (N), sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 29/6/2023 ông Võ Văn T trình bày: Ông và bà Ngô T N chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1982 tại Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh nhưng không có đăng ký kết hôn, do bà N có tình cảm với người đàn ông khác nên ngày 01/01/2006 bà N đã bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay không ai biết tin tức gì. Ông và các con đã nhiều lần tìm kiếm hỏi thăm thông tin từ bà con thân tộc, dòng họ nhưng hiện tại cũng không có ai biết tin tức gì về bà Ngô T N. Năm 2013 ông có làm thông báo tìm người vắng mặt nơi cư trú nhưng cũng không có tin tức của bà N. Tính đến nay bà N đã đi biệt tích từ năm 2006 không trở về, không rõ tung tích.

Nay ông Võ Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ngô T N, nơi cư trú cuối cùng Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đã chết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định.

Vê nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn T, tuyên bố Ngô Thị N là đã chết. Về án phí, lệ phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân dân huyện Tiểu Cần nhận định:

Tại phiên họp ông Võ Văn T cho rằng bà Ngô Thị N đã bỏ địa phương từ năm 2006 cho đến nay, gia đình có liên lạc tìm kiếm bà N nhưng không có tin tức và bà N cũng không có trở về địa phương nên vẫn giữ nguyên yêu cầu Toà án tuyên bố bà Ngô Thị N, sinh năm 1957 có nơi cư trú cuối cùng tại Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đã chết.

Xét thấy, tại văn bản xác nhận ngày 29/6/2023 của Công an thị trấn T, huyện T cung cấp thông tin hiện bà N không có mặt tại địa phương từ năm 2006 cho đến nay không về địa phương, không có tin tức của bà N đang ở đâu. Năm 2013 ông T đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Tại quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú số: 11/2013/QĐ-VDS ngày 25/11/2013 của Toà án nhân dân huyện Tiểu Cần đã chấp nhận đơn yêu cầu của ông T thông báo tìm kiếm đối với bà N, sinh năm 1957 có nơi cư trú cuối cùng tại Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh vắng mặt tại nơi cư trú nhưng không có tin tức của bà N, nên ngày 04/12/2019 ông T có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố bà N mất tích, sau khi thụ lý vụ án Toà án cũng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà N đã biệt tích 02 năm liền trở lên. Do đó ngày 12/6/2020 Toà án nhân dân huyện T đã ra Quyết định chấp nhận đơn yêu cầu của ông T, tuyên bố bà N mất tích, sau thời gian này bà N vẫn không có tin tức gì nên ngày 29/6/2023 ông Thương tiếp tục có đơn yêu cầu tuyên bố bà N đã chết. Ngày 20/11/2023 Tòa án có Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết số: 01/2023/QĐ-TA theo đơn yêu cầu của ông T. Tại các ngày 21, 22, 23 tháng 12 năm 2023 Đài tiếng nói Việt Nam chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh; các ngày 21/2/2024; 28/02/2024 và 01/3/2024 Báo Công Lý và Cổng Thông tin Điện tử Tòa án nhân dân tối cao; ngày 20/11/2023 Cổng Thông tin Điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và Ban biên tập cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh nhắn tin và đăng thông báo cùng một nội dung: “Thông báo cho bà Ngô Thị N, sinh năm 1957; nơi cư trú cuối cùng Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đã bỏ địa phương đi từ năm 2006 đến nay không có tin tức. Nay bà N ở đâu về ngay Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần để giải quyết việc ông Võ Văn T yêu cầu tuyên bố bà là đã chết”. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhắn tin và đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng người bị yêu cầu là bà Ngô Thị N vẫn không trở về. Xét thấy, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. Ông Võ Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố bà N là đã chết. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 xét thấy yêu cầu của ông T về việc yêu cầu tuyên bố bà N đã chết là có căn cứ nên được Tòa án chấp nhận.

Xét thấy ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Võ Văn Thương là ngư ờ i cao tuổ i có đơ n xin miễ n, giả m án phí thuộ c trư ờ ng hợ p đư ợ c miễ n nộ p án phí theo quy đị nh tạ i điể m đ khoả n 1 Đ iề u 12 Nghị quyế t số : 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củ a Ủ y ban thư ờ ng vụ Quố c hộ i quy đị nh về án phí, lệ phí Tòa án.

Về chi phí nhắn tin, đăng thông báo, ông Võ Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 67, 388, 391, 392 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Võ Văn T.

2. Tuyên bố bà Ngô Thị N, sinh năm 1957, nơi cư trú cuối cùng Khóm b, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là đã chết.

Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố bà Ngô Thị N là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày chết của bà Nở.

3. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố bà Ngô Thị Nở là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân, gia đình, quan hệ về tài sản và các quan hệ nhân thân khác của bà N được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Võ Văn T được miễn nộp lệ phí Toà án.

5. Lệ phí nhắn tin và đăng thông báo tìm kiếm ông Võ Văn T đã tự nộp và Toà án đã chi xong nên không phải nộp tiếp.

6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết công khai.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ