vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Anh Vũ Văn N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Tuyên bố Chị Vũ Thị N, sinh năm 1976, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương đã chết ngày 01/7/1998. Khi Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của Chị Vũ Thị N được giải quyết như đối với người đã chết; … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Anh Vũ Văn N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐST-VDSThanh Miện, ngày 16 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Phạm Đức Chính.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà An Thị Hà Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 08/2022/TLST-VDS ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2023/QĐST-VDS ngày 07/3/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Anh Vũ Văn N, sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

- Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1976; sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và biên bản ghi lời khai của Anh Vũ Văn N xác định như sau: Bố mẹ anh là ông Vũ Huy N1 và bà Hoàng Thị N2 (đều đã chết), sinh thời sinh được 04 người con gồm Chị Vũ Thị N, anh Vũ Văn S, anh Vũ Văn B và anh. Anh nhớ chính xác theo bố mẹ và các cô ruột của anh kể lại vào ngày 30/6/1993, Chị Vũ Thị N đã tự bỏ nhà đi không xin phép hay nói gì với gia đình anh. Gia đình anh không biết chị N bỏ đi đâu, làm gì và ở đâu. Mặc dù gia đình anh đã nhiều lần tìm các biện pháp tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, đăng phát báo đài, trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đều không có tin tức gì của chị N và từ ngày bỏ đi cho đến nay, chị N không về hay liên lạc với gia đình anh lần nào nữa. Tính đến nay, chị N đã biệt tích khoảng gần 30 năm. Do có liên quan đến quan hệ nhân thân và tài sản đối với gia đình anh nên anh làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thanh Miện tuyên bố Chị Vũ Thị N là đã chết.

Anh Vũ Văn S, anh Vũ Văn B (em ruột của chị N); bà Vũ Thị Biệc, bà Vũ Thị Liệc (cô ruột của chị N) đều xác định: Ngày 30/6/1993 chị N tự bỏ nhà đi, không nói với ai; gia đình nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm tin tức, đăng tin tìm kiếm trên báo, đài nhưng không có kết quả, không có tin tức về chị N, còn sống hay đã chết. Gia đình đã lấy ngày 30/6 hằng năm làm ngày thắp hương cho chị N. Nay Anh Vũ Văn N làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Chị Vũ Thị N là đã chết, cả gia đình đều nhất trí, không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại biên bản xác minh ở địa phương, đại diện Ủy ban nhân dân xã C xác định: Chị Vũ Thị N là một trong 04 người con của ông Vũ Huy N1 và bà Hoàng Thị N2 (ông N1 và bà N2 đều đã chết). Khoảng năm 1993, Chị Vũ Thị N đã bỏ đi khỏi địa phương và không quay về địa phương lần nào nữa từ đó đến nay. Gia đình chị N đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có bất cứ tin tức gì của chị N. Nay Anh Vũ Văn N là em trai chị N yêu cầu Tòa án tuyên bố chị N là đã chết, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh với Công an xã, Tư pháp xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương cung cấp: Qua kiểm tra, rà soát sổ sách, thông tin lưu trữ tại công an xã C, xác định không còn lưu giữ thông tin liên quan đến trường hợp công dân Vũ Thị N, sinh năm 1976. Xác định anh chị em ruột và cô ruột của chị N đã và đang sinh sống tại thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện trình bày việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ; tiến hành tố tụng tại phiên họp chấp hành đúng quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về đường lối giải quyết: Đề nghị áp dụng điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự; các Điều 149, Điều 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của Anh Vũ Văn N, tuyên bố Chị Vũ Thị N là đã chết. Ngày chết của Chị Vũ Thị N được xác định là ngày 01/7/1998.

- Quan hệ nhân thân của Chị Vũ Thị N được giải quyết theo quy định như đối với người đã chết.

- Quan hệ tài sản của Chị Vũ Thị N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Vũ Văn N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, Toà án nhân dân huyện Thanh Miện nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1976 có nơi cư trú cuối cùng là thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Do có liên quan về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của gia đình chị, Anh Vũ Văn N là em trai chị N làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố Chị Vũ Thị N là đã chết. Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo đơn yêu cầu của Anh Vũ Văn N là đảm bảo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu tuyên bố Chị Vũ Thị N đã chết của Anh Vũ Văn N: Chị Vũ Thị N là một trong 04 người con của ông Vũ Huy N1 và bà Hoàng Thị N2 (đều đã chết), địa chỉ đều ở thôn P, xã C. Căn cứ lời khai của anh N, anh S, anh B (em trai chị N), bà B, bà L (cô ruột chị N); căn cứ biên bản xác minh với đại diện chính quyền địa phương, công an xã, tư pháp xã C; Có đủ cơ sở xác định: Chị Vũ Thị N đã đi khỏi địa phương từ ngày 30/6/1993, gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức gì, từ đó đến nay cũng như việc chị N không quay trở lại địa phương lần nào và cũng không có bất kỳ hình thức nào liên hệ với gia đình và địa phương. Quá trình giải quyết việc dân sự, Toà án nhân dân huyện Thanh Miện đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Nội dung quyết định đã được đăng tải trên Báo Nhân dân - Cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ba số liên tiếp, phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) ba tin liên tiếp và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng tin, phát sóng tìm kiếm đầu tiên mà không có tin tức gì về Chị Vũ Thị N; chị N cũng không về lại gia đình, địa phương. Như vậy, có đủ căn cứ xác định Chị Vũ Thị N đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận yêu cầu của Anh Vũ Văn N về việc tuyên bố Chị Vũ Thị N là đã chết.

Về việc xác định ngày chết của Chị Vũ Thị N: Theo lời trình bày của Anh Vũ Văn N, của gia đình chị N và địa phương cùng các tài liệu chứng cứ khác xác định Chị Vũ Thị N bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 30/6/1993, do vậy thời hạn 05 năm liền biệt tích của chị N được xác định từ ngày 30/6/1993 đến 30/6/1998 và ngày chết của Chị Vũ Thị N là ngày 01/7/1998.

Về lệ phí: Anh Vũ Văn N là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí theo quy định. Về chi phí thông báo tìm kiếm Chị Vũ Thị N trên các phương tiện thông tin đại chúng: Anh N là người yêu cầu, phải chịu toàn bộ chi phí và đã thực hiện xong.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68, Điều 71, Điều 72, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 361, 370, 371, 372, 391, 392 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của Anh Vũ Văn N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Tuyên bố Chị Vũ Thị N, sinh năm 1976, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương đã chết ngày 01/7/1998.

2. Khi Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của Chị Vũ Thị N được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của Chị Vũ Thị N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Về lệ phí: Anh Vũ Văn N phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng lệ phí anh đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0000846 ngày 25/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Anh N đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ