vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 09/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Trần Thị R. Tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967 nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đã chết.

Về chi phí đăng tin tìm kiếm: Bà Trần Thị R phải chịu 3.025.000 đồng chi phí đăng tin tìm kiếm người bị tuyên bố là đã chết. Bà R đã nộp xong. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Trần Thị R yêu cầu ông Bùi Văn Ch đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Trần Thị R. Tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967 nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐST-VDSCư Jút, ngày 09 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn bá Luân.

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên họp: Ông Hoàng Xuân Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 40/2023/TLST-VDS ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 65/2023/QĐST-VDS ngày 01 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị R, sinh năm 1967. (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967. (Biệt tích)

Địa chỉ trước khi biệt tích: Tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

2/ Chị Bùi Thị Ch, sinh năm 1988 – có đơn giải quyết vắng mặt;

Địa chỉ: Xóm 13 thôn Bình M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

3/ Chị Bùi Thị Ch, sinh năm 1990 - có đơn giải quyết vắng mặt;

Địa chỉ: Xóm 3 thôn X, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình

4/ Chị Bùi Thị D, sinh năm 1992 - có đơn giải quyết vắng mặt;

Địa chỉ: Thôn Th, xã Đông Ph, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình

5/ Chị Bùi Thị Thanh M, sinh năm 1995 - có đơn giải quyết vắng mặt;

Địa chỉ: Xóm 8, thôn Đại H, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo nội dung đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu bà Trần Thị Rằm trình bày:

Bà Trần Thị R và ông Bùi Văn Ch kết hôn với nhau vào năm 1986, tại xã Đ, huyện Văn Ch, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng bà có 05 người con chung là chị Bùi Thị Ch, sinh năm 1988, chị Bùi Thị Ch, sinh năm 1990, chị Bùi Thị D, sinh năm 1992, chị Bùi Thị Th, sinh năm 1995 và Bùi Thanh Th, sinh năm 2008. Vào cuối năm 2008 ông Bùi Văn Ch bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Bà R và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức và không biết ông Bùi Văn Ch đang ở đâu. Gia đình có thông báo, đăng tải thông tin lên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không có kết quả. Ông Bùi Văn Ch đã biệt tích từ năm 2008 cho đến nay không biết còn sống hay đã chết. Vì vậy, bà Trần Thị R đề nghị Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967 đã chết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Ch, chị Bùi Thị Ch, chị Bùi Thị D, chị Bùi Thị Thanh M trình bày: Vào cuối năm 2008 ông Bùi Văn Ch (là bố đẻ các chị) bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Mẹ các các chị là bà R và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức và không biết ông Bùi Văn Ch đang ở đâu. Gia đình có thông báo, đăng tải thông tin lên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không có kết quả. Ông Bùi Văn Ch đã biệt tích từ năm 2008 cho đến nay không biết còn sống hay đã chết. Vì vậy, chị Ch, chị Ch1, chị D và chị M đề nghị Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967 đã chết theo quy định của pháp luật. Do nhà ở xa nên chị Ch, chị Ch1, chị Dung và chị Mai đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự và nội dung vụ án:

Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp: Thẩm phán, Thư ký, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án đã thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự, thẩm quyền theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút áp dụng Điều 71 Bộ luật dân sự (BLDS), khoản 1 Điều 391 và khoản 1, khoản 2 Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS): Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị R, tuyên bố ông Bùi Văn Ch đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Cư Jút nhận định:

Về thẩm quyền: Bà Trần Thị R yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cư Jút tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đã chết, đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Trần Thị Rằm và ông Bùi Văn Ch kết hôn với nhau vào năm 1986, tại xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng bà có 05 người con chung là Bùi Thị C, sinh năm 1988, Bùi Thị Ch1, sinh năm 1990, Bùi Thị D, sinh năm 1992, Bùi Thị Thanh M, sinh năm 1995 và Bùi Thanh Th, sinh năm 2008. Vào cuối năm 2008 ông Bùi Văn Ch bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Bà R và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có tin tức và không biết ông Bùi Văn Ch đang ở đâu. Gia đình có thông báo, đăng tải thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không có kết quả. Ông Bùi Văn Ch đã biệt tích từ năm 2008 cho đến nay, không biết còn sống hay đã chết. Vì vậy, Bà Trần Thị R đề nghị Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967 là chồng của bà đã chết theo quy định của pháp luật.

Theo kết quả xác minh, chính quyền địa phương tại tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông, xác định: Ông Bùi Văn Ch có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông nhưng đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2008 cho đến nay không có mặt tại địa phương, lý do vắng mặt không rõ.

Toà án nhân dân huyện Cư Jút đã làm thủ tục đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại địa phương: 03 lần trên đài tiếng nói Việt Nam và đăng tin 03 số báo Công Lý liên tiếp, cho đến nay đã gần 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức của ông Bùi Văn Ch nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị R, tuyên bố ông Bùi Văn Ch đã chết là đúng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự.

Tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự quy định “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”.

. Về chi phí đăng tin tìm kiếm người bị tuyên bố là đã chết trên các phương tiện thông tin đại chúng: Bà Trần Thị R phải chịu 3.025.000 đồng chi phí đăng tin tìm kiếm người bị tuyên bố là đã chết. Bà R đã nộp xong.

. Về lệ phí: Bà Trần Thị R phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 2 Điều 67, các Điều 149, 393, 371, 372 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà Trần Thị R. Tuyên bố ông Bùi Văn Ch, sinh năm 1967 nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là tổ dân phố 1, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đã chết.

2. Về chi phí đăng tin tìm kiếm: Bà Trần Thị R phải chịu 3.025.000 đồng chi phí đăng tin tìm kiếm người bị tuyên bố là đã chết. Bà R đã nộp xong.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000163 ngày 06/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.

4. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết quyết định.

Cỡ chữ