vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 27/04/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông B và bà A.

Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông C, bà D với anh E. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi C, D và con nuôi E chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "A-B-C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông B và bà A.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Luật Nuôi con nuôi; Điều 10 Luật Nuôi con nuôi; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐST-HNGĐBạc Liêu, ngày 27 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên họp: Bà Huỳnh Thị Hồng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 23/2023/TLST-VDS ngày 05 tháng 4 năm 2023, về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Bà A, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số 4/19 M, Khóm N, Phường O, thành phố R, tỉnh Bạc Liêu, (có đơn xin vắng mặt).

2. Ông B, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số 4/19 M, Khóm N, Phường O, thành phố R, tỉnh Bạc Liêu, (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông C, sinh năm 1958. HKTT: 10B, P, Phường Q, thành phố R, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: USA, (có đơn xin vắng mặt).

2. Bà D, sinh năm 1960. HKTT: 10B, P, Phường Q, thành phố R, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: USA, (có đơn xin vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông C và bà D: Bà A, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số 4/19 M, Khóm N, Phường O, thành phố R, tỉnh Bạc Liêu, (có đơn xin vắng mặt).

3. Anh E, sinh năm 1988; HKTT: 10B, P, Phường Q, thành phố R, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: 1402, Chung cư 86, S, Phường T, Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh, (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu đề ngày 05/4/2023 và biên bản lấy lời khai đề ngày 07/4/2023, người yêu cầu bà A và ông B thống nhất trình bày:

Ông B và bà A là vợ chồng, còn anh E, sinh ngày 28/3/1988 là con ruột của ông B và bà A. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn và để tạo điều kiện cho anh E có môi trường học tập tốt nên năm 1998 ông B và bà A đã đồng ý cho vợ chồng ông C và bà D (bà D là chị ruột của bà A) nhận anh E làm con nuôi. Thủ tục nhận nuôi con nuôi đã được ông B bà A và ông C bà D thực hiện Ủy ban nhân dân Phường Q, thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố R) vào ngày 05/12/1998. Đến ngày 09/2/1998, bà D đi làm thủ tục khai sinh cho anh E, theo Giấy khai sinh số 222 của Ủy ban nhân dân Phường O, tại mục phần khai về cha mẹ có thông tin là ông C và bà D, con là E.

Nay anh E đã trưởng thành, đã tự lập có công việc ổn định và tự nuôi sống bản thân, không còn chung sống với ông C và bà D do ông C bà D đã định cư ở nước ngoài từ năm 2010 đến nay. Quá trình giữa ông C và bà D chung sống với anh E cũng đã thực hiện dầy đủ quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi – con nuôi, không có mâu thuẫn. Nay bà A và ông B yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông C và bà D với anh E.

Tại Tờ trình đề ngày 05/4/2023 và Biên bản lấy lời khai ngày 07/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C và bà D thống nhất trình bày: Năm 1998, vợ chồng ông C bà D có làm thủ tục nhận anh E, sinh ngày 28/3/1988 làm con nuôi; anh E là con ruột của ông B và bà A (bà A là em ruột của bà D). Thời điểm nhận nuôi con nuôi, do hoàn cảnh gia đình ông B và bà A gặp nhiều khó khăn và để hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục anh E nên ông C bà D đã nhận anh E làm con nuôi. Thủ tục nhận nuôi con nuôi đã được thực hiện hợp pháp tại Ủy ban nhân dân Phường Q và được Ủy ban nhân dân Phường Q công nhận vào ngày 05/12/1998. Từ khi nhận nuôi anh E cho đến khi anh E trưởng thành, ông C và bà D đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 31/8/2010, ông C và bà D sang Hoa Kỳ định cư, anh E ở lại Việt Nam tiếp tục học tập và sinh sống cùng cha mẹ ruột, giữa ông C bà D với anh E không có điều kiện trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi. Nay anh E đã trưởng thành có cuộc sống độc lập và ổn định cùng với cha mẹ ruột nên ông C bà D thống nhất đồng ý với yêu cầu của ông B và bà A về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông bà với anh E.

Tại Tờ trình đề ngày 05/4/2023 và Biên bản lấy lời khai ngày 07/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh E trình bày: Anh E là con ruột của ông B và bà A. Năm anh E được 10 tuổi được ông C và bà D (bà D là dì ruột) nhận làm con nuôi. Thủ tục nhận anh E làm con nuôi đã được Ủy ban nhân dân Phường Q, thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố R) công nhận hợp pháp vào ngày 05/12/1998. Giữa ông C bà D với anh E đã thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cho đến khi anh E thành niên. Năm 2010, ông C và bà D sang Hoa Kỳ sống định cư còn anh E ở lại Việt Nam học tập và sinh sống cùng cha mẹ ruột. Nay anh E đã trưởng thành, có cuộc sống riêng nên anh E thống nhất đồng ý với yêu cầu của ông B bà A về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông C bà D với anh E.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày quan điểm giải quyết vụ việc:

+ Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đơn yêu cầu tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng theo quy định. Tại phiên họp hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên họp giải quyết việc dân sự.

+ Về nội dung vụ việc: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông B và bà A về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi ông C, bà D đối với anh E.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, nghe ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông C và bà D, hiện đang cư trú tại địa chỉ: USA nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông B và bà A có con ruột là anh E, sinh ngày 28/3/1988, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên năm 1998, ông B và bà A đồng ý cho anh E làm con nuôi của vợ chồng ông C và bà D (bà D là chị ruột của bà A). Bà D ông C và ông B bà A đã thực hiện thủ tục nhận nuôi con nuôi theo đúng quy định của pháp luật. Theo Giấy giao nhận việc nuôi con nuôi ngày 05/12/1998 và Giấy khai sinh số 222 ngày 09/12/1998 của Ủy ban nhân dân Phường Q, thị xã Bạc Liêu (nay thành phố R) cấp, có cơ sở xác định quan hệ giữa cha mẹ nuôi là ông C, bà D với con nuôi anh E là hợp pháp theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010.

Nay anh E đã thành niên, đã tự lập nuôi sống bản thân đồng thời quá trình chung sống giữa cha mẹ nuôi với con nuôi không có mâu thuẫn và các bên đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi. Nay ông B và bà A có yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông C bà D với anh E thì ông C bà D, anh E thống nhất đồng ý, nhận thấy yêu cầu trên của đương sự không trái quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Nuôi con nuôi về các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi: “ Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi”, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông B và bà A.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tại phiên họp là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.

Về lệ phí: Ông B và bà A phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 29, Điều 37, Điều 39, Điều 361, Điều 366, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10, khoản 1 Điều 25, Điều 26, khoản 1, khoản 3, khoản 5 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của ông B và bà A.

1. Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông C, bà D với anh E.

2. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi C, D và con nuôi E chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ B, A và con đẻ E được khôi phục theo quy định pháp luật.

4. Giấy giao nhận việc nuôi con nuôi ngày 05/12/1998 của Ủy ban nhân dân Phường Q, thị xã Bạc Liêu (nay thành phố R) cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày quyết định này của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

5. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông B và bà A phải chịu 300.000 đồng. Ông B và bà A đã nộp lệ phí 300.000 đồng theo Biên lai thu lệ phí số 0000419 ngày 05/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu, được chuyển thu lệ phí.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ