- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của bà Nguyễn Thị Hồng N;
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2023/QĐST-HNGĐ | Thủ Dầu Một, ngày 28 tháng 02 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Xác định cha cho con
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Trường
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hiếu
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 28/2022/TLST-VDS ngày 27 tháng 10 năm 2022 về việc “xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1982; địa chỉ: Đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Cháu Hoàng Phúc L, sinh ngày 30/3/2018; địa chỉ: Đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
+ Ông Nguyễn Chánh L1, sinh năm 1959; địa chỉ: đường N, Phường 22, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Ông Hoàng Anh D, sinh năm 1981; địa chỉ: đường L, Khu phố 4, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Trước đây bà N và ông Hoàng Anh D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống, bà N và ông D phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau. Trong quá trình ly thân, bà N và ông Nguyễn Chánh L1 có quan hệ tình cảm dẫn đến có con chung là cháu Hoàng Phúc L, sinh ngày 30/3/2018. Vì bà N chưa ly hôn với ông D, nên khi làm giấy khai sinh cho cháu L, bà N ghi họ tên cha của cháu L là Hoàng Anh D. Năm 2019, bà N và ông D ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 554/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đến tháng 3/2020, ông Nguyễn Chánh L1 và cháu Hoàng Phúc L tiến hành giám định ADN, kết quả thể hiện ông Nguyễn Chánh L1 có quan hệ huyết thống cha – con với cháu Hoàng Phúc L. Nay, để đảm bảo quyền lợi của cháu L, bà N yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Chánh L1 là cha ruột của cháu Hoàng Phúc L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chánh L1 trình bày: Năm 2017, ông L1 quen biết với bà N và có 01 con chung là cháu Hoàng Phúc L, sinh ngày 30/3/2018. Thời gian này, bà N vẫn chưa ly hôn với ông Hoàng Anh D, nên giấy khai sinh của cháu L ghi tên cha là Hoàng Anh D. Năm 2019, bà N và ông D ly hôn; ngày 04/3/2020, ông L1 và cháu Hoàng Phúc L tiến hành hành giám định ADN tại Trung tâm công nghệ di truyền Việt Nam, kết quả xác định: Ông L1 và cháu Hoàng Phúc L có quan hệ huyết thống cha – con. Ông L1 thống nhất với toàn bộ ý kiến trình bày và yêu cầu của bà N về việc xác định ông L1 là cha ruột của cháu Hoàng Phúc L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Anh D trình bày: Ông D và bà N trước đây là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 554/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Trong quá trình chung sống, bà N có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, nhưng ông D không biết cháu Hoàng Phúc L không phải là con ruột của mình. Theo Phiếu kết quả xét nghiệm ADN của Trung tâm công nghệ di truyền Việt Nam kết luận ông Nguyễn Chánh L1 có quan hệ huyết thống cha – con với cháu Hoàng Phúc L thì ông D không có ý kiến gì. Trường hợp kết luận giám định có căn cứ thì đề nghị Tòa án căn cứ vào kết luận giám định để giải quyết theo yêu cầu của bà N.
Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ hồ sơ việc dân sự nhận thấy, người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác định cháu L là con của bà N và ông L1. Theo Phiếu phân tích ADN và Kết luận giám định ADN đều kết luận ông Nguyễn Chánh L1 và cháu Hoàng Phúc L có quan hệ huyết thống cha – con. Do đó, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng N về việc xác định ông Nguyễn Chánh L1 là cha ruột của cháu Hoàng Phúc L là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Nguyễn Chánh L1 và ông Hoàng Anh D có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
Về nội dung: Năm 2011, bà N và ông Hoàng Anh D kết hôn với nhau (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113, quyển số 01/2011 ngày 15/9/2011 do UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông D và bà N). Đến năm 2019, bà N và ông D ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 554/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Trích lục khai sinh của cháu Hoàng Phúc L thể hiện: Cháu Hoàng Phúc L, sinh ngày 30/3/2018 có tên cha là Hoàng Anh D và tên mẹ là Nguyễn Thị Hồng N. Bà N và ông L1 thống nhất với nhau về việc ông L1 là cha ruột của cháu L, việc này ông D không có ý kiến phản đối và đề nghị Tòa án căn cứ vào kết luận giám định để giải quyết yêu cầu của bà N.
Quá trình giải quyết yêu cầu, Tòa án đã trưng cầu giám định để xác định quan hệ huyết thống giữa ông L1 và cháu L. Tại Kết luận giám định số 1191/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an đã kết luận: Ông Nguyễn Chánh L1 và cháu Hoàng Phúc L có quan hệ huyết thống cha - con.
Theo kết luận giám định nêu trên, có cơ sở để xác định ông Nguyễn Chánh L1 là cha ruột của cháu Hoàng Phúc L. Như vậy, yêu cầu xác định cha cho con của bà Nguyễn Thị Hồng N là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 10 Điều 29, các Điều 367, 369, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 88, 90, 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của bà Nguyễn Thị Hồng N;
Xác định ông Nguyễn Chánh L1, sinh năm 1959; địa chỉ: đường N, Phường 22, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là cha ruột của cháu Hoàng Phúc L, sinh ngày 30/3/2018 do bà Nguyễn Thị Hồng N sinh ra.
Bà Nguyễn Thị Hồng N được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục điều chỉnh Giấy khai sinh, hộ tịch của cháu Hoàng Phúc L theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000249 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND TP Thủ Dầu Một; - UBND P. P; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Trường |