vanban.org

Quyết định 03/2023/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 15/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn Th.

Khi Quyết định của Toà án tuyên bố ông Đặng Văn H đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân và gia đình và quan hệ nhân thân khác của ông Đặng Văn H được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Đặng Văn H được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của Ông H … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/QĐDS-ST
Ngày: 15/5/2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

“V/v: Tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Chủ tọa phiên họp: Bà Đào Thúy Hà - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Ông Tạ Ngọc Nam - Thẩm tra viên Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023,Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 52/2022/TLST-DS, ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc “Tuyên bố một người là đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp số 08/2023/TB-TA ngày 08 tháng 5 năm 2023.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: anh Đặng Văn Th, sinh năm 1975; HKTT: thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

2. Người bị yêu cầu: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1931. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đặng Văn K, sinh năm 1951; Trú tại: đội 9 thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Đặng Thị Ch, sinh năm 1954; Trú tại: đội 8 thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Đặng Văn Tr, sinh năm 1954; Trú tại: đội 9 thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Đăng Ngọc U, sinh năm 1959; Trú tại: đội 9 thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Đặng Thị T, sinh năm 1962; Trú tại: đội 2 thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

- Chị Đặng Thị Ng, sinh năm 1968; Trú tại: tổ 11, ấp Th, xã Th, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

- Chị Đặng Thị V, sinh năm 1970; Trú tại: thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

“ các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt”.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Người yêu cầu giải quyêt việc dân sự, anh Đặng Văn Th trình bày:

Bố mẹ đẻ anh là ông Đặng Văn H, sinh năm 1931 và bà Đoàn Thị A, sinh năm 1932. Bố mẹ anh được sinh ra, lớn lên và làm ăn sinh sống tại thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Ông H và bà A sinh được 10 người con nhưng chỉ còn 08 người còn sống, lần lượt là: Đặng Văn K, sinh năm 1951; Đặng Thị Ch, sinh năm 1954; Đặng Văn Tr, sinh năm 1954; Đăng Ngọc U, sinh năm 1959; Đặng Thị T, sinh năm 1962; Đặng Thị Ng, sinh năm 1968; Đặng Thị V, sinh năm 1970; Đặng Văn Th, sinh năm 1975. Gia đình anh chung sống chan hòa, hạnh phúc nhưng không hiểu vì lý do gì vào ngày 17/07/2002 ông Đặng Văn H đã bỏ nhà ra đi. Từ khi bỏ đi Ông H không về và không liên lạc với gia đình. Gia đình đã đi tìm kiếm ở khắp mọi miền trong đất nước và đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với Ông H nhưng đến nay vẫn không có tin tức. Nơi cư trú cuối cùng của Ông H là thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Nay để bảo đảm quyền lợi của gia đình theo quy định của pháp luật. Anh Đặng Văn Th đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên tuyên bố ông Đặng Văn H, sinh năm 1931; nơi cư trú cuối cùng tại thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đã chết. Anh không đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề khác.

Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên tiến hành xác minh về việc vắng mặt của Ông H thông qua người thân, chính quyền địa phương, cụ thể là: bà A ( vợ Ông H) và các con của Ông H ( là Đặng Văn K; Đặng Thị Ch; Đặng Văn Tr; Đăng Ngọc U; Đặng Thị T; Đặng Thị Ng và Đặng Thị V) đều có quan điểm giống như anh Thập trình bày.

Công an xã Phương Chiểu cung cấp: ông Đặng Văn H hiện nay không có mặt tại địa phương. Qua theo dõi xác định Ông H đã bỏ nhà đi từ năm 2002 đến nay. Từ khi đi đến nay Ông H không về địa phương, gia đình Ông H cũng không biết Ông H hiện nay đang sinh sống ở đâu, còn sống hay đã chết.

Chính quyền địa phương thôn Phương Thông cung cấp: Ông H đi khỏi địa phương từ năm 2002 đến nay không có tin tức.

Tại phiên họp hôm nay: Người yêu cầu có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đơn yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên phát biểu quan điểm. Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ việc đúng thảm quyền; xác định đúng yêu cầu, tư cách đương sự; giải quyết việc dân sự đúng thời hạn. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Khoản 2 Điều 180, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 68, điểm a khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn Th yêu cầu tuyên bố ông Đặng Văn H đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Đặng Văn Th về việc “tuyên bố một người là đã chết” đối với ông Đặng Văn H, sinh năm 1931; nơi cư trú cuối cùng là thôn Phương Thông, xã Phương Chiểu thuộc địa bàn thành phố Hưng Yên. Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

[2] Về nội dung:

.Căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và Công an xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên như đã nêu ở Phần nội dung vụ việc của Quyết định. Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên đã ban hành Quyết định số 02/2022/QĐ-TB ngày 28/11/2922 về việc thông báo tìm kiếm một người bị tuyên bố là đã chết đối với ông Đặng Văn H, được đăng trên báo Công Lý 03 (ba) số liên tiếp gồm các số 97, số 98, số 99, phát hành vào các ngày 07, 09, 14/12/2022; phát sóng trên Đài quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOVAMS) tại Hà Nội vào khung giờ 17 giờ 30 phút các ngày 15, 16, 17/12/2022; đăng phát trên cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên vào ngày 29/11/2022. Đến nay đã hết thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên là ngày 07/12/2022 nhưng việc tìm kiếm thông tin của ông Đặng Văn H vẫn không có kết quả, không có thông tin về ông Đặng Văn H hiện nay còn sống hay đã chết.

. Kể từ ngày biết được tin tức cuối cùng của ông Đặng Văn H là 17/7/2002 đến nay, ông Đặng Văn H đã đi biệt tích khỏi địa phương hơn 21 năm. Do vậy, đã đủ điều kiện tuyên bố ông Đặng Văn H đã chết theo điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự: “Biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống”.

. Từ những phân tích nêu trên, thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn Th về việc “Yêu cầu tuyên bố ông Đặng Văn H đã chết”.

. Do đương sự trong vụ án xác định được chính xác thời điểm ông Đặng Văn H biệt tích là nên căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71 Bộ luật dân sự, xác định ông Đặng Văn H chết ngày 17/7/2002.

. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự.

[2.6] Về lệ phí: Anh Đặng Văn Th phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Khoản 2 Điều 180, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 68, điểm a khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Văn Th. Tuyên bố ông Đặng Văn H, sinh năm 1931; nơi cư trú cuối cùng tại thôn Ph, xã Ph, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đã chết, kể từ ngày 17/7/2002.

Khi Quyết định của Toà án tuyên bố ông Đặng Văn H đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân và gia đình và quan hệ nhân thân khác của ông Đặng Văn H được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Đặng Văn H được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của Ông H được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Đặng Văn Th phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0001336 ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hưng Yên. Anh Đặng Văn Th đã nộp đủ tiền lệ phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giảiquyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà án ra quyết định.

Cỡ chữ