vanban.org

Quyết định 03/2023/DSST-QĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của bà Hà Thị V.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển sổ 01/2014 của UBND xã TH (nay là thị trấn TH), huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Bà V yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của bà Hà Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2023/DSST-QĐYên Lạc, ngày 12 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Duy Hưng

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Văn Tiệp

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Yến – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 89/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Hà Thị V, sinh năm 1970. Có mặt

Nơi cư trú: TDP BL, thị trấn TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân thị trấn TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Địa chỉ trụ sở: Thị trấn TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn Kh – Chủ tịch

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quang Đ – Phó Chủ tịch

Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt

- Anh Vũ Hồng Ng, sinh ngày 14/8/1995. Có mặt

Nơi cư trú: TDP BL, thị trấn TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

- Chị Hoàng Thanh H, sinh năm 1994. Có mặt

Nơi ĐKHKTT: TDP BL, thị trấn TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi ở hiện tại: TDP S, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu, lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp người yêu cầu bà V trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Vũ Hồng Ng, sinh ngày 14/8/1995 thể hiện tại Giấy khai sinh số 153, quyển số 01 do UBND xã TH, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú (nay là UBND thị trấn TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 18/8/1995 và tại các giấy tờ nhân thân khác như sổ hộ khẩu, căn cước công dân... Ngày 16/4/2015, anh Ng đăng ký kết hôn với chị Hoàng Thanh H tại UBND xã TH (nay là thị trấn TH), huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc thể hiện tại Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển số 01/2014. Việc kết hôn của hai bên trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên, tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh Ng mới 19 tuổi, 08 tháng, 02 ngày chưa đủ tuổi theo quy định của pháp luật. Do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên đến nay bà mới biết việc anh Ng đăng ký kết hôn khi chưa đủ tuổi. Sau ngày cưới, chị H về nhà bà làm dâu, làm, ăn, ở chung cùng gia đình bà. Quá trình chung sống, bà thấy giữa anh Ng, chị H phát sinh mâu thuẫn và cả hai đều muốn làm thủ tục ly hôn. Do vậy, bà đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Ng, chị H.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND thị trấn TH – người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Quang Đ trình bày:

Ngày 16/4/2015 anh Vũ Hồng Ng, sinh ngày 14/8/1995, địa chỉ: Xã TH, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc và chị Hoàng Thanh H, sinh ngày 25/6/1994, địa chỉ: Thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đến UBND xã TH (nay là thị trấn TH) đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký, anh Ng, chị Hồng làm thủ tục tại bộ phận một cửa, công chức tư pháp tiếp nhận là bà Nguyễn Thị Thủy. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, về phía anh Ng có xuất trình căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx thể hiện ngày tháng năm sinh của anh Ng là 14/8/1995. Chị H xuất trình đầy đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định. Căn cứ giấy tờ nhân thân trên thể hiện tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh Ng 19 tuổi 8 tháng và 02 ngày mà chưa đủ 20 tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nguyên nhân là do đồng chí công chức tư pháp chưa nghiên cứu và tìm hiểm rõ về luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 liên quan đến độ tuổi đăng ký kết hôn bởi giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có sự thay đổi về độ tuổi kết hôn nên mới dẫn tới việc vẫn làm thủ tục đăng ký kết hôn cho 02 công dân trên. Phó Chủ tịch UBND xã TH thời điểm này là ông Nguyễn Phương Nam do sơ suất và tin tưởng vào chuyên môn của công chức tư pháp nên đã ký xác nhận và cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển sổ 01/2014 cho anh Ng, chị H. Đối chiếu với các quy định của pháp luật thì việc UBND thị trấn TH, huyện Yên Lạc đăng ký kết hôn cho anh Ng, chị H là trái quy định của pháp luật.

Nay bà V là mẹ đẻ của anh Ng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Ng, chị H, UBND thị trấn TH đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H thống nhất trình bày:

Anh Ng là con trai của bà Hà Thị V, anh Ng và chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TH (nay là thị trấn TH), huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 16 tháng 4 năm 2015. Thời điểm đăng ký kết hôn, anh Ng xuất trình căn cước công dân căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx không nhớ rõ ngày tháng năm cấp do anh đã làm mất căn cước này, chị H xuất trình các giấy tờ theo quy định để làm thủ tục. . Căn cước công dân thể hiện anh Ng sinh ngày 14/8/1995. Sau đó, anh, chị được UBND xã TH cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển sổ 01/2014. Thời điểm đăng ký, anh Ng mới 19 tuổi 8 tháng 02 ngày. Do hiểu biết pháp luật hạn chế nên anh, chị không biết thời điểm đăng ký, anh Ng chưa đủ tuổi theo quy định của pháp luật.

Sau ngày cưới, chị H về nhà anh Ng làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh Ng. Quá trình chung sống, đến khoảng năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong ý ăn, ý ở hàng ngày. Hai vợ chồng đã nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm nhưng không thành và sống ly thân từ đầu tháng 4 năm 2023 cho tới nay.

Với yêu cầu của bà V, anh chị đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của hai anh chị.

Về con chung, tài sản, công nợ, công sức và đất canh tác: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Yên Lạc phát biểu quan điểm:

Đề nghị Thẩm phán chủ tọa phiên họp căn cứ các Điều 8, 10, 11, 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 29; Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu của bà Hà Thị V, hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H.

Về lệ phí: Bà V không phải chịu lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người có đơn yêu cầu là bà Hà Thị V mẹ đẻ anh Vũ Hồng Ng yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H, đăng ký kết hôn tại UBND xã TH (nay là thị trấn TH), huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của người yêu cầu: Bà Hà Thị V là mẹ đẻ anh Vũ Hồng Ng yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật của anh Ng và chị H với lý do tại thời điểm đăng ký kết hôn anh Ng chưa đủ tuổi theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà V là người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Căn cứ theo các giấy tờ, tài liệu chính gồm: Giấy khai sinh, căn cước công dân và sổ hộ khẩu gia đình thể hiện anh Vũ Hồng Ng, sinh ngày 14/8/1995. Tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 16/4/2015 anh Ng mới 19 tuổi 8 tháng 02 ngày. Do công chức tư pháp xã TH (nay là thị trấn TH) chưa nghiên cứu và tìm hiểm rõ về luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên vẫn tiến hành đăng ký kết hôn cho anh Ng, chị H thể hiện tại Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển sổ 01/2014. Việc kết hôn của anh Ng, chị H đã vi phạm điểm a khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015. Bà V có đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là đúng theo quy định tại Điều 8, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống, anh Ng và chị H phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đầu tháng 4 năm 2023 cho tới nay và cả hai đều đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa hai anh chị. Căn cứ Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm b, khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016 TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H.

Về con chung, tài sản, công nợ, công sức và đất canh tác: Anh Ng, chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Hà Thị V không phải chịu lệ phí theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tại phiên họp có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 6 Điều 3, các Điều 8, 10, 11, 12 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; các Điều 149, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016 TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của bà Hà Thị V.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2015, quyển sổ 01/2014 của UBND xã TH (nay là thị trấn TH), huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Anh Vũ Hồng Ng và chị Hoàng Thanh H phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hà Thị V không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết.

Cỡ chữ